Mở đầu bài thơ, người đọc tưởng chừng như là câu chuyện bé hỏi về thời tiết, nhưng hóa ra từ đó lại là những tâm sự, những yêu thương bé dành cho người bà của mình. Những hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị về tình cảm bà cháu rất đỗi xúc động, thân thương. Qua bài thơ có thể nói, nhà thơ Hữu Thỉnh đã vận dụng rất thành công những yếu tố vần điệu của lục bát, cũng như cách tân nó khi sử dụng một cách linh hoạt luật bằng - trắc, qua đó làm nổi bật ý thơ cần biểu đạt, ca ngợi tình cảm bà cháu mộc mạc, giản dị, khiến bài thơ dễ đi vào lòng người, dễ gây ấn tượng và ghi nhớ đối với người đọc. Theo quan điểm của tác giả Phương Lựu trong “Từ điển Văn học” lại khẳng định như sau: “Lục bát là một thể thơ cách luật cổ điển thuần tuý Việt Nam.
Đơn 10 vị cơ bản là một tổ hợp gồm hai câu sáu tiếng và tám tiếng. Số câu của nó không hạn định. Xét về lối gieo vần thì chủ yếu là vần bằng và cứ mỗi cặp hai câu mới đổi vần. Tiếng cuối câu 6 vần với tiếng 6 câu tám, rồi tiếng cuối câu 8 lại vần với tiếng cuối câu 6” [6, tr.
Ví dụ: “Thẫn thờ đứng tựa cội cây Tôi quay quắt nhớ những ngày đã xa. Quê hương khuất nẻo bóng tà Một thân vạc lẻ biết là về đâu Lòng riêng mang nặng nỗi sầu Thương cha, nhớ mẹ biết đâu ngày về. Chân mây bằn bặt bóng quê Hơi sương thấm lạnh tái tê nỗi sầu.” (Cố hương - Mạc Văn Nhuần) Đọc bài thơ ta thấy nỗi nhớ dàn trải mênh mông trong từng câu chữ. Tác giả đã rất linh hoạt trong việc vận dụng thanh trắc ở tiếng thứ tư dòng bát (nhớ, lẻ, mẹ, lạnh) thay vì thanh bằng như thông lệ, khiến câu thơ dù không nhắc đến từ “mùa” nhưng người đọc có thể cảm nhận được như cái heo may của mùa thu vương đâu đây qua bóng tà và hơi sương thấm lạnh, bài thơ giúp làm nổi bật hơn nỗi nhớ của người con xa xứ.
Phải chăng chỉ có mùa thu mới làm ta gợi nhớ đến thế. Đứng tựa vào cội cây, người lữ khách ngóng chờ về quê mẹ ở phía trời xa. Tác giả Mạc Văn Nhuần có lẽ cũng đồng điệu với tâm trạng của người lữ khách xa quê, bằng những biến hóa của ngòi bút thơ, mà ông đã tạo nên những nét mới lạ ở bài thơ. Với một đề tài quen thuộc trong ca dao và thơ xưa, nhưng những cách điệu về vần, về nhịp đã giúp khắc họa một cách chân thực hình ảnh nhân vật trữ tình vào lòng người đọc cùng cảm nhận.
11 Có thể xem các ý kiến về thơ lục bát của Nguyễn Xuân Nam trong quyển “Cơ sở lí luận văn học” như một định nghĩa ngắn gọn, dễ hiểu và đầy đủ “Lục bát là thể thơ cứ một dòng sáu chữ tiếp đến một dòng tám chữ. Thơ dài bao nhiêu cũng được miễn là dừng lại ở dòng tám. Đó là thể thơ quen thuộc của dân tộc. Nhiều câu ca dao, nhiều truyện nôm dân gian, nhiều thơ văn yêu nước và cách mạng viết theo thể này.
Ngoài ra, căn cứ theo lí luận của quyển “Lục bát và song thất lục bát” do tác giả Phan Diễm Phương biên soạn viết về lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại của hai thể thơ dân tộc: Lục bát và Song thất lục bát, đề tài này đã dựa vào đó để xây dựng lí thuyết cơ bản về những đặc trưng thơ lục bát, áp dụng trong việc giảng dạy tốt hoạt động Tập đọc ở trường Tiểu học. Lịch sử hình thành, phát triển thể lục bát 1. Nguồn gốc, sự hình thành thể lục bát Có hai hướng tiếp cận chủ yếu về nguồn gốc thể loại: lục bát có dấu vết của tục ngữ, ca dao, tức là có ngọn nguồn từ văn học dân gian; lục bát xuất phát, hình thành từ đặc trưng, sự vận động nội tại của tiếng Việt, văn hoá Việt. Một cách khái quát và khách quan có thể nói dòng chảy lục bát là hợp lưu của cả hai ngọn nguồn trên, nó được hình thành từ tiến trình vận động của văn học dân gian, từ chính đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và xu hướng thẩm mỹ mang tính chất tâm lý xã hội riêng của dân tộc Việt trong việc xây dựng âm luật thơ ca, nhất là sở thích sử dụng vần và nhịp.
Bài lục bát sớm nhất còn được lưu trữ là một bài hát cửa đình của Lê Đức Mao (1462-1529), đó là bài Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào. Các giai đoạn phát triển của thể lục bát Thơ lục bát bắt nguồn từ trong ca dao Việt Nam, thể hiện thành công cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng trong văn học dân gian. 12 Thời gian định hình của lục bát khoảng từ thế kỉ X đến thế kỉ XV. Thơ lục bát ở giai đoạn cuối thế kỉ XV đến trước Truyện Kiều còn trong tình trạng chưa hoàn chỉnh, hình hài chưa cụ thể, còn xô bồ, tự do và có đôi chút lỏng lẻo.
Trong dòng văn chương bác học, đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, địa vị thơ lục bát đã trở nên vững vàng với sự xuất hiện của khá nhiều tác phẩm giá trị như Lâm Tuyền văn của Phùng Khắc Khoan, và Ngọa Long Cương văn cùng Tư Dung văn của Đào Duy Từ. Sang thế kỷ thứ XVIII và XIX, lục bát đã trải qua thời kỳ cực thịnh với những tác phẩm danh tiếng như Nhị độ mai, Bích Câu kỳ ngộ, Hoa Tiên truyện. Vào nửa cuối thế kỉ XVIII, Trần Danh Án đã sưu tập và biên soạn Quốc phong giải trào và Nam phong nữ ngạn thi. Một số soạn giả đã ghi chép tục ngữ, ca dao bằng chữ Nôm, rồi dịch ra chữ Nho và chú thích.
Kế thừa truyện thơ lục bát của thế kỷ XVIII, giữa thế kỷ XIX đã xuất hiện hàng loạt truyện thơ lục bát, như: truyện Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, truyện Phan Trần… Truyện Kiều đã đánh dấu son cho sự mẫu mực, cổ điển của thể loại lục bát. Hai yếu tố gieo vần và phối điệu đã đạt tới sự thống nhất, ổn định. Câu thơ đã xuất hiện hình thức đối. Mặt khác, so với lục bát ca dao, sự sáng tạo ở Truyện Kiều còn thể hiện trong việc đưa vào tác phẩm những từ láy, điệp từ, thành ngữ và cả những lời nói trong sinh hoạt hàng ngày của quần chúng lao động.
Câu thơ của Nguyễn Du càng về sau càng uyển chuyển, đầy nhạc tính, nâng nghệ thuật thơ lục bát đến một giá trị độc đáo. So với Truyện Kiều, yếu tố ca dao - dân ca trong Lục Vân Tiên được khai thác và sử dụng với tần số lớn hơn, âm điệu câu thơ nhẹ nhàng hơn, êm ái hơn. Bên cạnh đó, những cách xưng tên trong lối bạch, lối tuồng, những bài học nhân quả, triết lý sống không màng danh lợi là những dấu ấn mà lục bát ca dao đã để lại trong tác phẩm. Lục bát thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX đều đi theo hướng mẫu mực đã được khẳng định chắc chắn từ trong Truyện Kiều.
Cuối thế kỷ XIX, lục bát không kể chuyện được nữa mà chuyển sang nhận chức năng 13 trữ tình làm chức năng chủ yếu. Trong số những nhà thơ hồi đầu thế kỷ XX nổi lên tên tuổi Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) với những vần điệu quả thực đã làm rung động lòng người. Sau Tản Đà, giai đoạn 1932 - 1945, Thơ mới xuất hiện với hầu hết những bài thơ mang tâm trạng u buồn man mác của số đông công chúng lúc bấy giờ. Thơ lục bát của những nhà thơ lãng mạn mới mẻ ở “cái tôi” tiểu tư sản.
Ngôn ngữ thơ trau chuốt, đạt đến sự tinh tế hiếm có trong nghệ thuật diễn tả những rung cảm của tâm hồn. Có thể nhặt ra nhiều hạt châu ngọc như Ngậm ngùi, Buồn đêm mưa (Huy Cận), Chiều (Xuân Diệu), Thơ sầu rụng (Lưu Trọng Lư), Luỹ tre xanh, Rằm tháng giêng (Hồ Dzếnh), v.v… Trong bầu trời lục bát Thơ mới, người ta biết đến Nguyễn Bính với một hồn thơ lai láng nét đẹp chân quê. Thơ lục bát của Nguyễn Bính được sáng tạo trên cái nền của ca dao xưa và phát triển thêm để nâng nó lên tầm cao mới. Đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp, lục bát phát triển theo định hướng tư tưởng của thời đại: văn hoá văn nghệ phục vụ công nông binh.
Lục bát gần với vè kể chuyện, ít chất thơ. Thời này, đa số các nhà thơ làm thơ tự do, rồi chen vào ít câu lục bát, như Bài ca vỡ đất, Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông); Bầm ơi, Sáng tháng Năm (Tố Hữu) v.v… Lục bát của Tố Hữu giai đoạn này (tập thơ Việt Bắc) và cả giai đoạn sau (các tập Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, bài thơ dài Nước non ngàn dặm) có nét chung: Tố Hữu sử dụng ngôn ngữ biểu cảm của ca dao, ông đưa vào thơ hình ảnh quần chúng, nói cái giọng quần chúng, nói cái tình kháng chiến, tình công dân. Lục bát sau năm 1954 được thừa hưởng những thành tựu nghệ thuật giai đoạn trước, nó mới mẻ ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Lục bát những năm này phát triển theo hai hướng: tiếp tục khai thác chất liệu ca dao, thể hiện những tình tự dân tộc theo hướng Nguyễn Bính, hoặc phản ánh đời sống, hướng về quần chúng, nói tiếng quần chúng, nói tình ý công dân, theo hướng của Tố Hữu.
Ở miền Nam, Phạm Thiên Thư tiếp bước Nguyễn Du bằng lục bát sang trọng, ngôn ngữ trong veo. Bùi Giáng làm mới lục bát bằng chữ nghĩa 14 trùng trùng điệp điệp, bằng tài hoa rất mực trong những lời cợt đùa như con trẻ, nói chuyện không đâu mà thành tư tưởng. Từ sau năm 1975, thơ lục bát ngày càng khẳng định sức sống mãnh liệt của mình. Có nhiều tập thơ lục bát chiếm được sự yêu mến của đông đảo công chúng như Sáu và tám (Nguyễn Duy), Thơ lục bát (Nguyễn Trọng Tạo), Ngàn xưa (Nguyễn Thanh Mừng), Thơ lục bát (Kim Chuông), v.v… Ở một số tập thơ (của một tác giả hoặc một nhóm tác giả), số lượng bài làm theo thể lục bát thường chiếm tỉ lệ khá cao.
Trong tiến trình phát triển của thơ hiện đại, lục bát tuy không phải là thể loại chủ đạo nhưng nó vẫn duy trì được sức sống và tạo được diện mạo mới mẻ cho mình.