phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương 3 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học ở THPT 1. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập 1. Tính tích cực a.
Khái niệm “Tính tích cực, nét tính cách rất quan trọng trong nhân cách thể hiện ở năng lực làm thay đổi thực tiễn, theo nhu cầu, mục đích của mình trong hoạt động sản xuất, học tập, sáng tạo, đấu tranh, …”. Khalamốp thì coi nó là trạng thái hoạt động của các chủ thể, nghĩa là của người hành động chỉ đề cập trong quá trình nhận thức, thuộc mục đích trước mắt. Như vậy, khi vận dụng vào PPDH thì quan niệm của I. Khalamốp là phù hợp hơn Nói chung, tính tích cực là một biểu hiện của trạng thái trong đời sống của chủ thể, tức là được biểu hiện qua các hành động của con người.
Vậy tính tích cực học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. GS Trần Bá Hoành cũng quan niệm, "Tính tích cực học tập là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. Nói cách khác, là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các hoạt động tri giác nhằm lỉnh hội những kinh nghiệm trong xã hội” Nói tóm lại tính tích cực là một phẩm chất vốn có và cần có của con người trong đời sống xã hội. Việc hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.Có thể coi tính tích cực như là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
Đặc điểm của tính tích cực Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động tạo ra các sản phẩm phục vụ cho xã hội, bằng lao động, sản xuất ra những của cải vật chất cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá ở mỗi thời đại. Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệmvụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách của quá trình giáo dục.tính tích cực thể hiện ở hai mặt: tự phát và tự giác. +Tính tích cực tự phát là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi của mỗi người.
Chúng ta cần nuôi dưỡng, coi trọng và phát triển chúng trong quá trình dạy học. +Tính tích cực tự giác là trạng thái tâm lý tích cực, có mục đích và đối tượng rõ rệt, thể hiện ở tính chủ động trong quan sát, nhận xét, phân tích và chiếm lĩnh đối tượng. Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập Có nhiều trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ bắp nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ, hai hình thức biểu hiện này thường đi liền với nhau. Sukina tính tích cực hoạt động trí tuệ có những biểu hiện như sau: – Học sinh khát khao tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời cho bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra.
– Học sinh nêu thắc mắc, đòi hỏi phải giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo viên trình bày chưa đủ rõ. – Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận ra vấn đề mới và vận dụng vào thực tiễn. 5 z – Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy còn có những biểu hiện về mặt cảm xúc, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra lời giải cho một bài tập. Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể học sinh, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên.
Sukina còn phân biệt những biểu hiện của tính tích cực học tập về mặt ý chí: – Tập trung chú ý vào vấn đề đang học – Kiên trì làm xong bài tập – Không nản trước những tình huống khó khăn – Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ cố làm cho xong hoặc vội vã gấp vở chờ lệnh ra chơi. Khi đạt tới một trình độ nhất định, việc học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học. Các cấp độ của tính tích cực * Những cấp độ từ thấp đến cao của tính tích cực trong học tập: - Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của giáo viên. - Tìm tòi: độc lập giải quyết những vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề.
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu ích. - Tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào những nhân tố sau: hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, tính cách, sức khỏe, môi trường. *Để tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh thì hứng thú là vấn đề đáng quan tâm nhất vì: - Nó được hình thành một cách nhanh chóng và ở bất cứ lúc nào trong quá trình dạy học. 6 z - Điều quan trọng hơn cả là người thầy có thể điều khiển hứng thú của học sinh qua các yếu tố của quá trình dạy học: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học; qua các bước lên lớp, giảng bài mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra kiến thức; qua mối quan hệ thầy trò… Để kích thích hứng thú học tập của học sinh điều quan trọng nhất là phải nắm được khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của học sinh.
Tính tự lực học tập của HS a. Khái niệm về tính tự lực Tính tự lực là một phẩm chất nhân cách. Tính tự lực có liên quan chặt chẽ đến biểu hiện tích cực, ý chí, tình cảm, các quá trình nhận thức,…của con người. Và trong quá trình học tập, HS phải biết sáng tạo khi tiếp thu tri thức, hình thành thái độ, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo.
Hoạt động học tập thực chất là hoạt động nhận thức.Ở đây thì tính tự lực nhận thức là hạt nhân của tính tự lực trong quá trình học tập. Theo nghĩa rộng, bản chất của tính tự lực nhận thức là sự sẳn sàng về mặt tâm lý cho sự tự học. Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho hoạt động học tập có mục đích, có kế hoạch, có sự điều chỉnh và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả.HS suy đoán được diễn biến những quá trình trí tuệ, cảm xúc, động cơ ý chí của mình, đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạt kết quả học tập nhất định.HS biết huy động mọi sức lực, thể lực, trí lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ học tập. Từ đó có thể nêu lên khái niệm tính tự lực học tập như sau: “Tính tự lực học tập là một phẩm chất nhân cách quan trọng của con người được hình thành trong quá trình hoạt động học tập của HS.
HS xác định mục đích, động cơ học tập đúng đắn, luôn bồi dưỡng năng lực học tập, tự tổ chức học tập cho bản thân, có sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực, ý chí nhằm lĩnh hội tri thức, rèn luyên kĩ năng kĩ xảo để thoả mãn nhu cầu nhận thức nói chung và học tập nói riêng”. 7 z Những biểu hiện hành vi của tính tự lực học tập của HS trong và ngoài giờ học thể hiện ở bảng 1.1: Biểu hiện hành vi của tính tự lực học tập trong và ngoài giờ học Trong giờ học Ngoài giờ học Đi học đều Học bài cũ Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập Tham gia các hoạt động ngoại khóa Học thuộc bài cũ Hoàn thành bài tập về nhà Hăng hái phát biểu ý kiến Chủ động tìm kiếm bài tập, tư liệu ở Tích cực thảo luận nhóm thầy cô và bạn bè Trao đổi bài học với bạn bè và thầy Chú ý nghe giảng và chép bài đầy đủ cô Nghiêm túc trong kiểm tra, trong các Khái quát kiến thức bài học thí nghiệm thực hành. Lập kế hoạch học tập hằng ngày Nỗ lực cao về trí tuệ, ý chí, thể lực Tự kiểm tra kiến thức đã tiếp thu. Để đào tạo nguồn nhân lực có đủ đức, trí, thể, mỹ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngoài việc rèn luyện cho học sinh tính tích cực trong học tập còn phải hướng học sinh đến khả năng tự lực khám phá tri thức.
Theo quan điểm giáo dục hiện nay, tính tự lực trong học tập được hiểu là: -Tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự xây dựng kiến thức bằng hoạt động của chính bản thân mình, tức là cá nhân hoá việc học. -Tự mình mày mò, khám phá những kiến thức mới, những điều mình chưa hiểu, chứ không phải học theo khuôn mẫu của giáo viên trên lớp. -Người học chủ động và tự mình trực tiếp tiến hành các cuộc thăm dò, quan sát, thảo luận với các nhóm bạn, làm thí nghiệm để giải quyết vấn đề đặt 8 z ra theo cách nghĩ của mình, từ đó lĩnh hội được kiến thức mới, kĩ năng mới, phát huy khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề. Vai trò của tính tự lực - Khơi dậy nội lực vốn có, tạo lòng ham học, ham hiểu biết, từ đó kết quả nhân lên gấp bội.
- Tự lực trong học tập còn giúp người học có thêm niềm vui, niềm hứng thú, từ đó nảy sinh nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập. - Người học tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn, rèn luyện kĩ năng tự học từ đó phát triển năng lực sáng tạo.