Luận Văn Thạc Sĩ Ngôn Ngữ: Thơ Dân Tộc Dao Thời Kì Hiện Đại - Phạm Thị Vân Anh

Luận văn nghiên cứu sâu sắc về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại, khám phá quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm nghệ thuật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề

3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu

4. Nhiêm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Cấu trúc đề tài

1. PHẦN NỘI DUNG. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

1.1. Giới thiệu chung về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.2. Quá trình hình thành và phát triển của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.3. Một số thành tựu và hạn chế của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.4. Một số tác giả tiêu biểu của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.4.1. Nhà thơ Bàn Tài Đoàn - người khởi nguồn của thơ Dao

1.4.2. Nhà thơ Triệu Kim Văn - người nối dòng cho thơ Dao

2. NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG TRONG THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

2.1. Vấn đề cảm hứng trong thơ

2.2. Những mạch nguồn cảm hứng trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

2.2.1. Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài truyền thống

2.2.2. Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài hiện đại

3. Chương 3. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại

3.1.1. Vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ

3.1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại

3.2. Giọng điệu nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại

3.2.1. Vấn đề giọng điệu nghệ thuật trong thơ

3.2.2. Giọng điệu nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Thơ Dân Tộc Dao Hiện Đại Luận Văn

Trong bức tranh đa sắc màu của văn học Việt Nam, thơ dân tộc Dao đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện đại. Nghiên cứu này tập trung phân tích các tác phẩm thơ Dao đương đại, khám phá những giá trị độc đáo và đóng góp của nó vào nền văn học dân tộc. Luận văn này sẽ đi sâu vào phân tích những đặc điểm nổi bật của thơ hiện đại Dao, từ đó làm nổi bật bản sắc văn hóa và những biến đổi trong đời sống tinh thần của người Dao. Công trình này khám phá văn học dân tộc Dao từ sau cách mạng tháng Tám. Đây là nền văn hóa truyền thống Dao với những giá trị độc đáo thể hiện qua hai đại diện tiêu biểu là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn. Họ là những người có đóng góp lớn lao trong việc chuyển tải tiếng nói của người dân tộc thiểu số miền núi, đem văn hóa Dao đến gần hơn với cộng đồng các dân tộc khác trên khắp Việt Nam. Nghiên cứu này cũng xem xét những ảnh hưởng của thơ Dao đến nhận thức về văn hóa và xã hội trong cộng đồng. Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp phân tích văn học, xã hội học và so sánh để khám phá một cách toàn diện và sâu sắc về thơ dân gian Dao.

1.1. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển Thơ Dân Tộc Dao

Thơ ca Dao là một yếu tố quan trọng cấu thành đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Dao. Từ rất sớm, đồng bào dân tộc Dao đã có một kho tàng văn học dân gian truyền miệng phong phú, đặc sắc, với các thể loại như truyện cổ, tục ngữ, ca dao. Để đáp ứng những yêu cầu trong giao tiếp, sinh hoạt, lao động., người Dao đã dựa vào chữ Hán để sáng tạo ra loại chữ Nôm Dao riêng cho dân tộc mình. Qua quá trình đó, nền văn học viết dân tộc tộc Dao từng bước được hình thành. Đồng bào dân tộc Dao vốn là những người có đời sống tinh thần phong phú, yêu văn chương và đặc biệt là thơ ca. Có thể nói, phải đến giữa thế kỉ XX, khi nhà thơ xuất sắc Bàn Tài Đoàn xuất bản những tập thơ liên tiếp thì thơ ca Dao thời kì hiện đại mới thực sự được hình thành.

1.2. Vai Trò của Thơ trong Bảo Tồn Văn Hóa Dao Nghiên Cứu

Bên cạnh một số dân ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khá nhiều tập truyện văn học. Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyện thơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện ở vùng người Dao như: "Hàn Bằng", "Đàm Thanh", "Bát Nương", "Lâu Cảnh", "Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện", "Đặng Nguyên Huyện truyện", "Bá Giai truyện", "Thần sắt ca". Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả. Một số truyện tuy có chủ đề khác nhưng trước khi đề cập đến nội dung chính cũng kể về cuộc hành trình của người Dao. Đồng bào dân tộc Dao vốn là những người có đời sống tinh thần phong phú, yêu văn chương và đặc biệt là thơ ca. Việc nghiên cứu đóng góp to lớn vào công cuộc bảo tồn văn hóa Dao.

II. Phân Tích Mạch Nguồn Cảm Hứng Trong Thơ Dao Hiện Đại Luận Văn

Mạch nguồn cảm hứng trong thơ đóng vai trò then chốt, quyết định sự thành công của một tác phẩm. Thơ ca Dao chủ yếu bắt nguồn cảm hứng từ những mảng đề tài đậm tính truyền thống. Nổi bật lên trong đó là những đề tài như: tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống; ý thức về tộc người; tình yêu với quê hương, đất nước. Phân tích thơ Dao cho thấy ý thức về tộc người là một trong những chỉ dấu đậm nét, thể hiện vùng tâm thức đặc biệt của dân tộc này. Nó như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng mạch thơ ca Dao thời kì hiện đại, từ giai đoạn mở đầu cho đến ngày hôm nay, từ những tác giả gạo cội cho đến những tác giả trẻ đương đại.

2.1. Thơ Dao và Tình Yêu Thiên Nhiên Cuộc Sống Lao Động

Một trong những tình cảm thường trực, sâu sắc của con người chính là tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống. Với bất kì một người bình thường nào, tình cảm đó đã trở thành một thứ hết sức tự nhiên. Còn với một nhà thơ, những người vốn tinh tế, nhạy cảm, giàu suy tư, thì tình yêu thiên nhiên và cuộc sống lại càng trở nên sâu đậm, tạo nguồn cảm hứng lớn cho sáng tác của họ. Thơ ca của các nhà thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại cũng thể hiện rõ điều này. Đọc thơ của các nhà thơ người Dao, chúng ta có thể hình dung và cảm nhận bức tranh thiên nhiên, đời sống sinh hoạt và lao động của đồng bào Dao.

2.2. Ý Thức Tự Tôn Dân Tộc và Thể Hiện Bản Sắc Dao Qua Thơ

Trong diễn trình lịch sử ấy, người ta cùng nhau từng bước hình thành nên ý thức về tộc người của mình. Nó chính là một điều vừa tự nhiên vừa sâu sắc, một trong những yếu tố cốt lõi làm nên bản sắc, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác. Thơ ca của các nhà thơ Dao đã dành một sự trăn trở, suy tư thường trực về những cuộc thiên di này. Thơ dân tộc Dao đã cất giữ những tâm tình sâu thẳm nhất của đồng bào, quê hương.

2.3. Tình Yêu Quê Hương Đất Nước Trong Thơ Ca Dao

Mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc đều được sinh trưởng trong chiếc nôi vĩ đại - đó là quê hương, đất nước. Nó trở thành một nguồn sữa nuôi dưỡng tâm hồn, một tình yêu tự nhiên mà sâu sắc. Quê hương, đất nước luôn luôn là một mạch nguồn cảm hứng dồi dào, trường cửu, bất tận của sáng tạo nghệ thuật nói chung, đặc biệt là của thơ ca nói riêng. Thơ ca dân tộc Dao đã thể hiện đầy đủ và sâu sắc cả hai phương diện này.

III. Đặc Điểm Nghệ Thuật Trong Thơ Dân Tộc Dao Phương Pháp Phân Tích

Nghiên cứu về đặc điểm nghệ thuật giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về giá trị của thơ ca Dao. Các yếu tố như ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, thể thơ và cấu trúc đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự độc đáo của thơ Dao. Cần phân tích ngôn ngữ thơ Dao trong mối quan hệ với văn hóa Dao. Cách sử dụng hình ảnh và biểu tượng trong thơ cũng phản ánh đời sống và tín ngưỡng của người Dao. Vấn đề giọng điệu nghệ thuật trong thơ cũng góp phần quan trọng để tạo được một bài thơ hay, đi vào lòng người.

3.1. Ngôn Ngữ Nghệ Thuật và Âm Hưởng Trong Thơ Dân Tộc Dao

Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ là một trong những yếu tố quan trọng làm nên đặc trưng của một nền thơ. Ngôn ngữ thơ ca Dao mang những nét riêng, từ cách sử dụng từ ngữ đến cách xây dựng hình ảnh. Những âm hưởng thơ Dao cũng phản ánh đời sống tinh thần của người Dao. Có thể nói, ngôn ngữ thơ Dao là một yếu tố then chốt để hiểu sâu sắc hơn về nền văn hóa này.

3.2. Hình Ảnh Thơ Dao Phản Ánh Đời Sống và Tín Ngưỡng

Hình ảnh và biểu tượng trong thơ Dao không chỉ là những yếu tố trang trí, mà còn là phương tiện để truyền tải những giá trị văn hóa và tín ngưỡng của người Dao. Những hình ảnh về núi rừng, về cuộc sống lao động, về những phong tục tập quán… đều góp phần tạo nên bức tranh đa sắc màu về cuộc sống của người Dao. Hình ảnh thơ Dao là một phần không thể thiếu để hiểu về bản sắc văn hóa Dao.

IV. Tác Giả Tiêu Biểu và Sự Phát Triển Của Thơ Dân Tộc Dao

Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn là hai tác giả tiêu biểu nhất của thơ Dao. Bàn Tài Đoàn là người đặt nền móng, còn Triệu Kim Văn là người kế thừa và phát triển. Triệu Kim Văn đã góp phần làm phong phú thêm cho đời sống thơ ca dân tộc Dao nói riêng và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung. Sự phát triển của thơ Dao gắn liền với những đóng góp của các tác giả này.

4.1. Bàn Tài Đoàn Người Khởi Nguồn và Đặt Nền Móng

Nhà thơ Bàn Tài Đoàn (1913 - 2007) là người con của dân tộc Dao tiền, là đại diện xuất sắc của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ông là nhà thơ hiến hoi luôn sáng tác song ngữ (bằng cả tiếng Kinh và tiếng Dao). Các tác phẩm của ông đã trở thành di sản quý giá trong kho tàng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Với những cống hiến của mình cho thơ ca dân tộc Dao và thơ ca cách mạng ông xứng đáng đáng là một cây cao bóng cả trong làng thơ văn dân tộc thiểu số Việt Nam.

4.2. Triệu Kim Văn Người Kế Thừa và Phát Huy Giá Trị Thơ Dao

Sau Bàn Tài Đoàn, tên tuổi Triệu Kim Văn đã góp phần làm phong phú thêm cho đời sống thơ ca dân tộc Dao nói riêng và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung. Cuộc đời Triệu Kim Văn là một minh chứng sống động cho sự nỗ lực tự vượt lên chính mình, bằng nền tảng là cội nguồn cốt cách văn hóa của dân tộc Dao để hòa mình vào dòng chảy chung của đời sống văn hóa - văn học Việt Nam.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Thơ Dao Bảo Tồn Văn Hóa và Giáo Dục

Nghiên cứu về thơ dân tộc Dao không chỉ có ý nghĩa về mặt văn học mà còn có giá trị ứng dụng trong việc bảo tồn văn hóa Dao và giáo dục. Giá trị thơ Dao rất lớn. Những nghiên cứu này có thể được sử dụng để giới thiệu và quảng bá văn hóa Dao đến với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từ đó khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống. Đây là nguồn tư liệu quý cho công tác giảng dạy và học tập.

5.1. Thơ Dao và Vấn Đề Bảo Tồn Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc

Việc nghiên cứu và giới thiệu thơ Dao là một trong những cách hiệu quả để bảo tồn bản sắc văn hóa Dao. Thông qua thơ ca, những giá trị văn hóa truyền thống của người Dao được truyền lại cho các thế hệ sau. Điều này góp phần ngăn chặn sự mai một của văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.

5.2. Thơ Dao trong Giáo Dục Khơi Dậy Tình Yêu Văn Hóa

Sử dụng thơ Dao trong chương trình giáo dục là một cách hiệu quả để khơi dậy tình yêu văn hóa và lòng tự hào dân tộc cho học sinh, đặc biệt là học sinh người Dao. Điều này giúp các em hiểu sâu sắc hơn về nguồn gốc và bản sắc văn hóa của dân tộc mình, từ đó có ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp.

VI. Kết Luận Tầm Quan Trọng và Tương Lai Của Thơ Dao

Thơ dân tộc Dao đóng vai trò quan trọng trong nền văn học Việt Nam. Nghiên cứu về thơ Dao không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về văn hóa Dao mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tương lai của thơ Dao phụ thuộc vào sự quan tâm và ủng hộ của cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Tuyên truyền văn hóa Dao là một việc làm cấp thiết.

6.1. Đánh Giá Tổng Quan về Giá Trị và Ý Nghĩa của Thơ Dao

Thơ Dao không chỉ có giá trị về mặt văn học mà còn có ý nghĩa lớn về mặt văn hóa và xã hội. Thơ ca là tiếng nói của cộng đồng, là nơi thể hiện những tâm tư, tình cảm, ước mơ và khát vọng của người Dao. Đánh giá thơ Dao một cách khách quan và toàn diện là điều cần thiết để khẳng định vị trí của nó trong nền văn học Việt Nam.

6.2. Hướng Nghiên Cứu và Phát Triển Thơ Dao Trong Tương Lai

Để thơ Dao tiếp tục phát triển và có những đóng góp ý nghĩa cho nền văn học Việt Nam, cần có những hướng nghiên cứu và phát triển cụ thể. Khuyến khích sáng tác, hỗ trợ xuất bản, quảng bá tác phẩm, tạo điều kiện cho các tác giả trẻ… là những việc cần làm để thơ Dao ngày càng khẳng định vị thế của mình.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu là nhà thơ Bàn Tài Đoàn, đại diện thế hệ làm giàu có và hiện đại hóa nền thơ dân tộc là nhà thơ Triệu Kim Văn, và thế hệ trẻ tiếp nối hiện nay có Tằng A Tài, Lý Hữu Lương. Điều đó cho thấy thơ ca dân tộc Dao mang trong mình một chiều sâu mạch ngầm để có những điều kiện phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững, vừa tạo nên vị trí riêng cho mình, vừa đóng góp vào sự phong phú và sự phát triển chung của thơ ca đất nước. Về hạn chế: Nền thơ Dao tuy đạt được những thành tựu nhất định, đóng góp vào thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam những giá trị độc đáo, nhưng đồng thời cũng vẫn còn những hạn chế đặc thù khó tránh. Nổi bật nhất trong đó là ở hai vấn đề: phát triển đội ngũ tác giả, tính trình hiện đại hóa.

11 download by : skknchat@gmail.com Trước hết có thể nói thơ ca Dao đã có những tác giả tiêu biểu xuất sắc (Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn). Tuy nhiên, đáng tiếc là đội ngũ tác giả thơ của dân tộc Dao khá ít ỏi, chưa đủ để tạo ra một lực lượng sáng tác tương xứng với những tiềm năng văn hóa - văn học nghệ thuật của dân tộc mình. Đã hơn nửa thế kỉ trôi qua (từ khoảng giữa thế kỉ XX đến nay), thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại chỉ đóng góp được thêm một vài tên tuổi người viết mới như Đặng Phúc Lường, Triệu Đức Thanh, Tằng A Tài, Lý Hữu Lương. Đây là sự bổ sung rất khiêm tốn so với chiều dài phát triển của một nền thơ ca.

Đi sâu vào các sáng tác thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại, có thể thấy nền thơ này kế thừa một nền tảng văn hóa - văn học nghệ thuật đậm tính truyền thống. Qua suốt chiều dài phát triển, đặt trong sự vận động nói chung của thơ ca Việt Nam, thơ ca dân tộc Dao còn ít đổi mới, cách tân. Lối viết bám chặt vào thi pháp và mĩ học truyền thống một mặt đem lại cho thơ Dao một bản sắc riêng độc đáo, nhưng mặt khác lại khiến nó hạn chế trong sáng tạo, cách tân, hội nhập với xu thế hiện đại hóa, mất đi tính phong phú cần có. Có thể nói, vì những lí do và điều kiện đặc thù, đây không chỉ là vấn đề của thơ ca dân tộc Dao nói riêng, mà còn là vấn đề của thơ ca các dân tộc thiểu số nói chung.

Một số tác giả tiêu biểu của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại 1. Nhà thơ Bàn Tài Đoàn - người khởi nguồn của thơ Dao 1. Tiểu sử và con người Nhà thơ Bàn Tài Đoàn (1913 - 2007) là người con của dân tộc Dao tiền, là đại diện xuất sắc của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Sinh ra tại Nguyên Bình - Cao Bằng, Bàn Tài Đoàn phải lớn lên trong sự nghèo khó, vất vả.

Dù vậy, ông lại sớm được giác ngộ và đến với con đường lí tưởng cách mạng khi ẩn trong những cánh rừng Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo luôn sục sôi khí thế đánh giặc. Nhờ vậy, ông sớm được hun đúc và tôi luyện trong mình một khí phách ngang tàng, bản lĩnh vững vàng. Lớn lên trong những 12 download by : skknchat@gmail.com câu chuyện kể của bản làng, những điệu hát Páo Dung say mê ngọt ngào, Bàn Tài Đoàn dần kết tụ trong tâm hồn mình sự chân thành, hồn hậu, hào sảng. Nó là “mảnh đất ươm trồng” cho nhà thơ một hồn thơ xanh tươi và đầy thăng hoa.

Quê hương ông vốn là một vùng quê nghèo đói, lạc hậu, phải chứng kiến cảnh nghèo túng đó ông đã có một quyết tâm lớn là phải làm việc gì đó để giúp quê hương mình thoát nghèo. Ông đã tự học và đọc thông viết thạo được chữ nôm Dao, ông đến với cách mạng và truyền bá những tư tưởng tiến bộ, cách mạng mà mình tiếp thu được cho người dân quê mình. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942. Sau năm 1945, ông làm công tác tuyên huấn trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1951 đến khi nghỉ hưu, ông đã từng giữ các chức vụ như: Phó Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Cao Bằng; Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc; Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Văn học các dân tộc thiểu số. Bàn Tài Đoàn là nhà thơ hiến hoi luôn sáng tác song ngữ (bằng cả tiếng Kinh và tiếng Dao). Các tác phẩm của ông đã trở thành di sản quý giá trong kho tàng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ông đã vinh dự được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2001.

Hành trình sáng tác Với nhiệt tình tuổi trẻ, với niềm tin tuyệt đối vào cách mạng cộng với vốn hiểu biết về thơ ca dân gian và khả năng sẵn có của mình, ông đã làm những bài ca cách mạng đầu tiên nhằm tuyên truyền giác ngộ quần chúng nhân dân dưới ánh sáng của Đảng. Điểm lại những sáng tác của Bàn Tài Đoàn từ những ngày đầu gặp cách mạng đến nay, ta thấy đời thơ của ông gắn liền với cuộc đời cách mạng. Cách mạng đã chăm sóc, nuôi dưỡng cho tâm hồn thơ ông. Tâm sự trao đổi với đồng nghiệp về đời, về nghề viết, nhà thơ Bàn Tài Đoàn chia sẻ một cách rất bình dị nhưng sâu sắc, rằng: "Tôi sinh ra và lớn lên 13 download by : skknchat@gmail.com trong một gia đình nông dân vùng cao, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, sách không được học một chữ.

Tôi may mắn được gặp Cách mạng và đi theo Cách mạng, được Đảng quan tâm dìu dắt cho tôi làm thơ ca dân tộc để phục vụ dân tộc. Tôi như người đang trong bóng tối, vừa mới ra ánh sáng còn bỡ ngỡ, làm Cách mạng đã khó, làm thơ còn khó hơn". Về thơ Bàn Tài Đoàn, có thể chia làm hai mảng chính. Mảng thứ nhất là những bài thơ gắn với cuộc đời hoạt động, những miền đất và những con người mà nhà thơ từng đi qua, từng gắn bó.

Đó là những cảm xúc trước những cuộc đời mới, trước những đổi thay tốt đẹp mà cách mạng đem lại cho ông cũng như đồng bào Dao. Những bài thơ tiêu biểu cho mảng thứ nhất này như: Muối cụ Hồ, Khuổi sao, Từ rừng Trần Hưng Đạo, Gặp đồng chí Văn Đường số 9. Đó là những địa danh gắn với xứ Lạng: Tràng Định, Thất Khê quê xứ Lạng Núi đồi đã lắm suối cũng nhiều Khuổi Sao đây là con suối nhỏ Suối nhỏ ngàn năm nước không nghèo (Khuổi Sao) Hay là cảm xúc của một người con miền núi lần đầu tiên ra gặp biển, ông đã thốt lên lời: Biển rộng mênh mông nhìn không tận Gió biển hây hây mát đêm ngày Sóng biển dâng trào mặt trời ló Đêm lặng như tờ hứng bóng trăng (Đến Sầm Sơn) Từ những cảm xúc về cảnh hùng vĩ và thơ mộng của biển, nhà thơ mộng của biển, nhà thơ vui sướng với thực tại của đất nước và khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam cũng chung một Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cùng chung một bọc trứng: 14 download by : skknchat@gmail.com Ta cưỡi từng con sóng bạc đầu Khắp nơi cùng về vui chung biển Miền xuôi miền ngược gặp được nhau (Đến Sầm Sơn) Mảng thứ hai trong thơ ông là những bài thơ theo thể trường ca. Có thể nói mảng thứ hai này là sở trường của ông.

Nhà thơ đã bám vào thể thơ truyền thống 7 chữ kiểu cổ phong và phương thức lưu truyền thơ gắn với chuyện thơ hay thơ ca các dân tộc thiểu số để phổ cập nhẹ nhàng những vấn đề thời sự hoặc thực tại của của đời sống, của các vị lãnh tụ như Lênin, Hồ Chí Minh trong tập "Đường sáng", "Bước đường tôi đi". Được xem là thế hệ nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên từ sau Cách mạng tháng Tám, ông đã đưa tất cả những gì thuộc về dân tộc mình vào trong thơ với những cảm xúc, tấm lòng chân thành nhất của người con yêu quê hương đến cháy bỏng. Do vậy, đọc thơ Bàn Tài Đoàn ta luôn cảm nhận được cái mộc mạc, giản dị, gần gũi, lời thơ đôi khi giống như kể mà chân thành khiến người đọc không khỏi xúc động: Một thân ngô cõng hai ba con Ngô con, ngô cái treo đầy gác Đánh giặc không lo bụng đói cồn (Năm mới đến) Hay là những vần thơ viết về cha mẹ rất giản dị nhưng đầy tình cảm trước khi nhà thơ lên đường theo Cách mạng: Chào mẹ, con đi xa đánh giặc Ở nhà mẹ nhé, hãy yên lòng! Con sẽ gửi thư tin mẹ biết Tin con giết giặc, tin chiến công Mẹ nghe bố đọc thư con gửi Mẹ gật đầu: xứng dân tộc Dao 15 download by : skknchat@gmail.com Bố viết thư: ở xa bản núi Nghe thư con, già trẻ tự hào (Con đã lớn) Thơ Bàn Tài Đoàn mang đậm tính phô diễn, tự sự và trực diện. Chẳng hạn khi viết về tội ác của giặc Mỹ, ông cũng viết rất trực diện, cụ thể như lời kể: Trên đất Việt Nam còn có giặc Giặc Mỹ ngày càng độc ác hơn Miền Nam đã chịu nhiều năm khổ Miền Bắc nay lại cũng không yên.

Gặc Mỹ leo thang thả bom xuống Phá hoại xóm làng và ruộng nương Nhân dân mới về làng chưa ổn Lại phải sơ tán chạy vào rừng (Đêm nằm không ngủ) Nhìn lại hành trình sáng tác của Bàn Tài Đoàn, có thể thấy, trọn cuộc đời sống và viết thơ của mình, với tình yêu bản làng quê hương đất nước, ông đã khẳng định được tên tuổi của mình trong làng thơ Việt Nam. Ông đã để lại một di sản quý giá cho thơ ca dân tộc Dao nói riêng, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung, với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ hơn chục tập thơ: “Muối cụ Hồ” (1960), “Xuân về trên núi” (1963), “Đường cụ Hồ” (1963), “Có mắt thấy đường đi” (1964), “Một giắc mơ” (1965), “Kể chuyện đời” (1968), “Tháng tám đổi mới” (1971), “Rừng xanh” (1973), “Sáng cả hai miền” (1975), “Gửi đồng bào Dao” (1979), “Nơi ta ở” (1979), “Bước đường tôi đi” (1985), “Muốn tìm bạn” (1977), “Người Dao nghĩ gì” (1984), “Tuyển tập Bàn Tài Đoàn” (1992). Nếu nhắc đến văn học Tày ta có Nông Quốc Chấn, thì văn học Dao ta có Bàn Tài Đoàn. Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho văn học Dao nói riêng và văn học dân tộc thiểu số nói chung.

Với những cống hiến của mình cho thơ 16 download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ