mở đầu là nhà thơ Bàn Tài Đoàn, đại diện thế hệ làm giàu có và hiện đại hóa nền thơ dân tộc là nhà thơ Triệu Kim Văn, và thế hệ trẻ tiếp nối hiện nay có Tằng A Tài, Lý Hữu Lương. Điều đó cho thấy thơ ca dân tộc Dao mang trong mình một chiều sâu mạch ngầm để có những điều kiện phát triển một cách mạnh mẽ và bền vững, vừa tạo nên vị trí riêng cho mình, vừa đóng góp vào sự phong phú và sự phát triển chung của thơ ca đất nước. Về hạn chế: Nền thơ Dao tuy đạt được những thành tựu nhất định, đóng góp vào thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam những giá trị độc đáo, nhưng đồng thời cũng vẫn còn những hạn chế đặc thù khó tránh. Nổi bật nhất trong đó là ở hai vấn đề: phát triển đội ngũ tác giả, tính trình hiện đại hóa.
11 download by : skknchat@gmail.com Trước hết có thể nói thơ ca Dao đã có những tác giả tiêu biểu xuất sắc (Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn). Tuy nhiên, đáng tiếc là đội ngũ tác giả thơ của dân tộc Dao khá ít ỏi, chưa đủ để tạo ra một lực lượng sáng tác tương xứng với những tiềm năng văn hóa - văn học nghệ thuật của dân tộc mình. Đã hơn nửa thế kỉ trôi qua (từ khoảng giữa thế kỉ XX đến nay), thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại chỉ đóng góp được thêm một vài tên tuổi người viết mới như Đặng Phúc Lường, Triệu Đức Thanh, Tằng A Tài, Lý Hữu Lương. Đây là sự bổ sung rất khiêm tốn so với chiều dài phát triển của một nền thơ ca.
Đi sâu vào các sáng tác thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại, có thể thấy nền thơ này kế thừa một nền tảng văn hóa - văn học nghệ thuật đậm tính truyền thống. Qua suốt chiều dài phát triển, đặt trong sự vận động nói chung của thơ ca Việt Nam, thơ ca dân tộc Dao còn ít đổi mới, cách tân. Lối viết bám chặt vào thi pháp và mĩ học truyền thống một mặt đem lại cho thơ Dao một bản sắc riêng độc đáo, nhưng mặt khác lại khiến nó hạn chế trong sáng tạo, cách tân, hội nhập với xu thế hiện đại hóa, mất đi tính phong phú cần có. Có thể nói, vì những lí do và điều kiện đặc thù, đây không chỉ là vấn đề của thơ ca dân tộc Dao nói riêng, mà còn là vấn đề của thơ ca các dân tộc thiểu số nói chung.
Một số tác giả tiêu biểu của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại 1. Nhà thơ Bàn Tài Đoàn - người khởi nguồn của thơ Dao 1. Tiểu sử và con người Nhà thơ Bàn Tài Đoàn (1913 - 2007) là người con của dân tộc Dao tiền, là đại diện xuất sắc của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Sinh ra tại Nguyên Bình - Cao Bằng, Bàn Tài Đoàn phải lớn lên trong sự nghèo khó, vất vả.
Dù vậy, ông lại sớm được giác ngộ và đến với con đường lí tưởng cách mạng khi ẩn trong những cánh rừng Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo luôn sục sôi khí thế đánh giặc. Nhờ vậy, ông sớm được hun đúc và tôi luyện trong mình một khí phách ngang tàng, bản lĩnh vững vàng. Lớn lên trong những 12 download by : skknchat@gmail.com câu chuyện kể của bản làng, những điệu hát Páo Dung say mê ngọt ngào, Bàn Tài Đoàn dần kết tụ trong tâm hồn mình sự chân thành, hồn hậu, hào sảng. Nó là “mảnh đất ươm trồng” cho nhà thơ một hồn thơ xanh tươi và đầy thăng hoa.
Quê hương ông vốn là một vùng quê nghèo đói, lạc hậu, phải chứng kiến cảnh nghèo túng đó ông đã có một quyết tâm lớn là phải làm việc gì đó để giúp quê hương mình thoát nghèo. Ông đã tự học và đọc thông viết thạo được chữ nôm Dao, ông đến với cách mạng và truyền bá những tư tưởng tiến bộ, cách mạng mà mình tiếp thu được cho người dân quê mình. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942. Sau năm 1945, ông làm công tác tuyên huấn trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Từ năm 1951 đến khi nghỉ hưu, ông đã từng giữ các chức vụ như: Phó Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Cao Bằng; Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc; Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam; Ủy viên Hội đồng Văn học các dân tộc thiểu số. Bàn Tài Đoàn là nhà thơ hiến hoi luôn sáng tác song ngữ (bằng cả tiếng Kinh và tiếng Dao). Các tác phẩm của ông đã trở thành di sản quý giá trong kho tàng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ông đã vinh dự được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2001.
Hành trình sáng tác Với nhiệt tình tuổi trẻ, với niềm tin tuyệt đối vào cách mạng cộng với vốn hiểu biết về thơ ca dân gian và khả năng sẵn có của mình, ông đã làm những bài ca cách mạng đầu tiên nhằm tuyên truyền giác ngộ quần chúng nhân dân dưới ánh sáng của Đảng. Điểm lại những sáng tác của Bàn Tài Đoàn từ những ngày đầu gặp cách mạng đến nay, ta thấy đời thơ của ông gắn liền với cuộc đời cách mạng. Cách mạng đã chăm sóc, nuôi dưỡng cho tâm hồn thơ ông. Tâm sự trao đổi với đồng nghiệp về đời, về nghề viết, nhà thơ Bàn Tài Đoàn chia sẻ một cách rất bình dị nhưng sâu sắc, rằng: "Tôi sinh ra và lớn lên 13 download by : skknchat@gmail.com trong một gia đình nông dân vùng cao, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, sách không được học một chữ.
Tôi may mắn được gặp Cách mạng và đi theo Cách mạng, được Đảng quan tâm dìu dắt cho tôi làm thơ ca dân tộc để phục vụ dân tộc. Tôi như người đang trong bóng tối, vừa mới ra ánh sáng còn bỡ ngỡ, làm Cách mạng đã khó, làm thơ còn khó hơn". Về thơ Bàn Tài Đoàn, có thể chia làm hai mảng chính. Mảng thứ nhất là những bài thơ gắn với cuộc đời hoạt động, những miền đất và những con người mà nhà thơ từng đi qua, từng gắn bó.
Đó là những cảm xúc trước những cuộc đời mới, trước những đổi thay tốt đẹp mà cách mạng đem lại cho ông cũng như đồng bào Dao. Những bài thơ tiêu biểu cho mảng thứ nhất này như: Muối cụ Hồ, Khuổi sao, Từ rừng Trần Hưng Đạo, Gặp đồng chí Văn Đường số 9. Đó là những địa danh gắn với xứ Lạng: Tràng Định, Thất Khê quê xứ Lạng Núi đồi đã lắm suối cũng nhiều Khuổi Sao đây là con suối nhỏ Suối nhỏ ngàn năm nước không nghèo (Khuổi Sao) Hay là cảm xúc của một người con miền núi lần đầu tiên ra gặp biển, ông đã thốt lên lời: Biển rộng mênh mông nhìn không tận Gió biển hây hây mát đêm ngày Sóng biển dâng trào mặt trời ló Đêm lặng như tờ hứng bóng trăng (Đến Sầm Sơn) Từ những cảm xúc về cảnh hùng vĩ và thơ mộng của biển, nhà thơ mộng của biển, nhà thơ vui sướng với thực tại của đất nước và khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam cũng chung một Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cùng chung một bọc trứng: 14 download by : skknchat@gmail.com Ta cưỡi từng con sóng bạc đầu Khắp nơi cùng về vui chung biển Miền xuôi miền ngược gặp được nhau (Đến Sầm Sơn) Mảng thứ hai trong thơ ông là những bài thơ theo thể trường ca. Có thể nói mảng thứ hai này là sở trường của ông.
Nhà thơ đã bám vào thể thơ truyền thống 7 chữ kiểu cổ phong và phương thức lưu truyền thơ gắn với chuyện thơ hay thơ ca các dân tộc thiểu số để phổ cập nhẹ nhàng những vấn đề thời sự hoặc thực tại của của đời sống, của các vị lãnh tụ như Lênin, Hồ Chí Minh trong tập "Đường sáng", "Bước đường tôi đi". Được xem là thế hệ nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên từ sau Cách mạng tháng Tám, ông đã đưa tất cả những gì thuộc về dân tộc mình vào trong thơ với những cảm xúc, tấm lòng chân thành nhất của người con yêu quê hương đến cháy bỏng. Do vậy, đọc thơ Bàn Tài Đoàn ta luôn cảm nhận được cái mộc mạc, giản dị, gần gũi, lời thơ đôi khi giống như kể mà chân thành khiến người đọc không khỏi xúc động: Một thân ngô cõng hai ba con Ngô con, ngô cái treo đầy gác Đánh giặc không lo bụng đói cồn (Năm mới đến) Hay là những vần thơ viết về cha mẹ rất giản dị nhưng đầy tình cảm trước khi nhà thơ lên đường theo Cách mạng: Chào mẹ, con đi xa đánh giặc Ở nhà mẹ nhé, hãy yên lòng! Con sẽ gửi thư tin mẹ biết Tin con giết giặc, tin chiến công Mẹ nghe bố đọc thư con gửi Mẹ gật đầu: xứng dân tộc Dao 15 download by : skknchat@gmail.com Bố viết thư: ở xa bản núi Nghe thư con, già trẻ tự hào (Con đã lớn) Thơ Bàn Tài Đoàn mang đậm tính phô diễn, tự sự và trực diện. Chẳng hạn khi viết về tội ác của giặc Mỹ, ông cũng viết rất trực diện, cụ thể như lời kể: Trên đất Việt Nam còn có giặc Giặc Mỹ ngày càng độc ác hơn Miền Nam đã chịu nhiều năm khổ Miền Bắc nay lại cũng không yên.
Gặc Mỹ leo thang thả bom xuống Phá hoại xóm làng và ruộng nương Nhân dân mới về làng chưa ổn Lại phải sơ tán chạy vào rừng (Đêm nằm không ngủ) Nhìn lại hành trình sáng tác của Bàn Tài Đoàn, có thể thấy, trọn cuộc đời sống và viết thơ của mình, với tình yêu bản làng quê hương đất nước, ông đã khẳng định được tên tuổi của mình trong làng thơ Việt Nam. Ông đã để lại một di sản quý giá cho thơ ca dân tộc Dao nói riêng, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung, với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ hơn chục tập thơ: “Muối cụ Hồ” (1960), “Xuân về trên núi” (1963), “Đường cụ Hồ” (1963), “Có mắt thấy đường đi” (1964), “Một giắc mơ” (1965), “Kể chuyện đời” (1968), “Tháng tám đổi mới” (1971), “Rừng xanh” (1973), “Sáng cả hai miền” (1975), “Gửi đồng bào Dao” (1979), “Nơi ta ở” (1979), “Bước đường tôi đi” (1985), “Muốn tìm bạn” (1977), “Người Dao nghĩ gì” (1984), “Tuyển tập Bàn Tài Đoàn” (1992). Nếu nhắc đến văn học Tày ta có Nông Quốc Chấn, thì văn học Dao ta có Bàn Tài Đoàn. Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho văn học Dao nói riêng và văn học dân tộc thiểu số nói chung.
Với những cống hiến của mình cho thơ 16 download by : skknchat@gmail.