Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống giáo dục phổ thông, Vật lý là môn khoa học thực nghiệm; phần lớn tri thức vật lý hình thành từ quá trình quan sát và thí nghiệm. Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi chuyển dịch từ truyền thụ một chiều sang phát huy tính chủ động, bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và kỹ năng thực hành cho học sinh. Phần "Nhiệt học" trong chương trình Vật lí 10 ban Cơ bản chứa đựng nhiều nội dung gắn liền với hiện tượng đời sống thực tế, đòi hỏi cao về phương tiện trực quan.
Tuy nhiên, thực tế tại các trường trung học phổ thông (THPT) cho thấy cơ sở vật chất phục vụ thí nghiệm phần này còn nhiều thiếu thốn. Thiết bị được cấp phát thiếu tính đồng bộ, nhanh xuống cấp hoặc hư hỏng trong quá trình vận chuyển và bảo quản, thiếu linh kiện thay thế, dẫn đến việc đo đạc thường sai số lớn hoặc không thực hiện được. Xuất phát từ thực trạng đó, khóa luận tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng các bộ thí nghiệm tự tạo bằng vật liệu sẵn có, chi phí thấp nhằm phục vụ phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 5 nội dung:
- Áp dụng hiệu quả các biện pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm tự tạo kết hợp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
- Áp dụng quy trình thiết kế và chế tạo các dụng cụ thí nghiệm tự tạo.
- Chế tạo một số thí nghiệm phần Nhiệt học Vật lí 10 THPT.
- Thiết kế tiến trình dạy học một số bài học cụ thể có sử dụng thí nghiệm tự tạo theo hướng nêu và giải quyết vấn đề.
Để hiện thực hóa mục tiêu, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở trường THPT.
- Đánh giá thực trạng sử dụng thí nghiệm nói chung và thí nghiệm tự tạo nói riêng trong dạy học Vật lý THPT.
- Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số thí nghiệm phần Nhiệt học Vật lí 10 THPT.
- Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể sử dụng thí nghiệm tự tạo theo hướng nêu và giải quyết vấn đề.
- Triển khai các tiến trình dạy học và thí nghiệm tự tạo vào thực tiễn để đánh giá hiệu quả sư phạm.
Giả thuyết khoa học của đề tài: Nếu thiết kế, chế tạo được các thí nghiệm phần Nhiệt học Vật lí 10 và đưa vào quá trình dạy học một cách hiệu quả thì sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, qua đó nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý ở trường THPT.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận, thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm tự tạo; một số thí nghiệm phần Nhiệt học Vật lí 10 cơ bản; quá trình dạy học có sử dụng thí nghiệm tự tạo.
- Phạm vi không gian và đối tượng khảo nghiệm: Trường THPT Trần Văn Dư, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi nội dung: Các bài học thuộc phần Nhiệt học trong chương trình sách giáo khoa Vật lí 10 ban Cơ bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài kết hợp giữa lý luận dạy học nêu và giải quyết vấn đề với phương pháp sử dụng thí nghiệm thực hành trong bộ môn Vật lý:
- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề: Dựa trên việc đưa học sinh vào các tình huống có vấn đề (chứa đựng mâu thuẫn nhận thức mà kiến thức cũ chưa giải quyết được, kích thích nhu cầu nhận thức). Văn bản phân loại 4 dạng tình huống: tình huống phát triển/hoàn chỉnh, tình huống lựa chọn, tình huống bất ngờ và tình huống bế tắc. Cấu trúc quá trình dạy học gồm 3 giai đoạn: Đề xuất vấn đề; Nghiên cứu giải quyết vấn đề và kết luận; Củng cố và vận dụng kiến thức. Mức độ tham gia của học sinh được chia thành 4 cấp độ tùy thuộc vào mức độ tự chủ từ khâu phát hiện đến khâu giải quyết vấn đề.
- Thí nghiệm tự tạo: Là những thiết bị, mô hình do giáo viên và học sinh tự chế tạo dựa theo mẫu sách giáo khoa, cải tiến từ thiết bị sẵn có hoặc tự sáng chế từ các nguyên vật liệu đời sống đơn giản, dễ kiếm. Bốn yêu cầu kỹ thuật và sư phạm bắt buộc đối với dụng cụ tự tạo gồm: tính khoa học, tính sư phạm, tính thẩm mỹ và tính khả thi.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích các văn kiện của Đảng, chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới giáo dục phổ thông; tổng quan lý luận tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học môn Vật lý; phân tích chương trình và sách giáo khoa Vật lí 10 ban Cơ bản.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Trao đổi trực tiếp, lấy ý kiến của giáo viên bộ môn Vật lý tại các trường THPT để làm rõ thực trạng quản lý và sử dụng thiết bị thí nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm tại trường THPT Trần Văn Dư để đối chiếu, kiểm tra tính khả thi của các dụng cụ tự tạo và tiến trình bài dạy.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định tính và định lượng các dữ liệu điểm số, phân phối tần số, tần suất tích lũy của bài kiểm tra sau thực nghiệm sư phạm.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Nội dung chương trình Vật lí 10 cơ bản; các công trình nghiên cứu về thiết bị dạy học tự tạo của Huỳnh Trọng Dương (2007), Trần Thị Trang (2013), Trương Ngọc Điều (2010); phản hồi thực tế từ giáo viên Vật lý và kết quả kiểm tra của học sinh tại trường THPT Trần Văn Dư.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm tự tạo theo hướng dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở học sinh trung học phổ thông
Chương 1 hệ thống hóa bản chất của dạy học nêu và giải quyết vấn đề, phân tích vai trò của phương tiện trực quan và khảo sát thực trạng giáo dục phổ thông. Tác giả tổng hợp 4 mức độ phân cấp hoạt động giữa giáo viên (GV) và học sinh (HS):
| Mức độ |
Đặt vấn đề |
Giải quyết vấn đề |
Kết luận |
| Mức độ 1 |
GV thực hiện |
GV thực hiện |
GV thực hiện |
| Mức độ 2 |
GV thực hiện |
GV hướng dẫn, HS thực hiện |
GV và HS phối hợp |
| Mức độ 3 |
GV gợi mở, HS phát hiện |
HS tự lực, GV hỗ trợ khi cần |
HS và GV phối hợp |
| Mức độ 4 |
HS tự phát hiện |
HS tự lực giải quyết |
HS kết luận, GV cố vấn |
Về thực trạng dạy học Vật lý tại trường THPT, văn bản chỉ ra những bất cập mang tính cố hữu:
- Đa số giáo viên vẫn thiên về phương pháp thuyết trình truyền thống, dạy chay; thí nghiệm chỉ được tiến hành đối phó trong các tiết thao giảng, dự giờ hoặc thi giáo viên dạy giỏi.
- Sĩ số lớp học quá đông (từ 37 đến 42 học sinh/lớp), gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động nhóm và quản lý không gian phòng thí nghiệm. Lịch thực hành của các lớp cùng khối thường xuyên trùng lặp.
- Thiếu kinh phí hỗ trợ việc tự chế tạo thiết bị; các trường chưa tổ chức định kỳ các cuộc thi đồ dùng dạy học tự làm; chưa có chính sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với giáo viên dành thời gian nghiên cứu dụng cụ.
Nhằm tháo gỡ rào cản, tác giả đề xuất 5 nhóm biện pháp: dùng thí nghiệm tự tạo để khơi gợi tính tò mò; dùng thí nghiệm kích hoạt hoạt động tìm kiếm tri thức; dùng thí nghiệm để củng cố và rèn luyện kỹ năng; hướng dẫn học sinh tự chế tạo thí nghiệm ở nhà (thông qua quy trình 7 bước cụ thể); phối hợp thí nghiệm với các thiết bị nghe nhìn (camera, máy chiếu).
Chương 2: Thiết kế và sử dụng một số thí nghiệm tự tạo trong dạy học phần Nhiệt học Vật lý 10 cơ bản
Chương 2 trình bày quy trình 9 bước chế tạo dụng cụ thí nghiệm tổng quát:
- Xác định mục đích khoa học và mục đích dạy học.
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và tài liệu liên quan.
- Thiết kế phương án, sơ đồ và mô hình.
- Tìm kiếm vật liệu, thiết bị.
- Lắp ráp chi tiết theo sơ đồ thiết kế.
- Thử nghiệm, vận hành thử và tinh chỉnh.
- Xây dựng tiến trình dạy học có tích hợp thí nghiệm.
- Triển khai thí nghiệm vào giờ dạy thực tế.
- Rút kinh nghiệm, hoàn thiện mô hình.
Tác giả đã chế tạo 4 bộ thí nghiệm định tính phục vụ các bài học trọng tâm:
| Tên thí nghiệm |
Vật liệu chế tạo |
Nguyên lý hoạt động và hiện tượng |
Ứng dụng bài dạy |
| Kiểm chứng định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt |
2 vỏ chai nhựa (Pepsi/Coca), 4 van xăm xe máy, 1 miếng săm xe, dây cao su (1,5 m cắt thành 2 đoạn 50 cm và 1 đoạn 30 cm), 1 bình nhựa, khóa điều chỉnh, xi lanh, kim tiêm, giá đỡ gỗ. |
Khi mở khóa, nước từ khay chảy vào xi lanh qua chai 2 làm mực nước dâng cao, nén lượng khí bên trên. Áp suất khí tăng truyền qua ống nối sang chai 1, nén mặt nước chai 1 đẩy dòng nước phun ra ở kim tiêm thành vòi phun. |
Bài 29: Quá trình đẳng nhiệt. Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt |
| Sự giãn nở vì nhiệt của vật rắn |
1 pin điện hóa, 1 bóng đèn LED, dây dẫn 60 cm, 2 thanh nhôm tròn nhỏ dài 10 cm, khung gỗ và đế đỡ. |
Hai thanh nhôm được đặt cách nhau một khe hở nhỏ trong mạch điện nối tiếp với đèn LED. Dùng đèn cồn đốt nóng, nhôm nở dài làm kín mạch khiến đèn LED bật sáng; khi nguội, nhôm co lại làm đèn tắt. |
Bài 36: Sự nở vì nhiệt của vật rắn |
| Kiểm chứng thuyết động học phân tử chất khí |
1 bình nước sôi, 1 bong bóng cao su, 1 vỏ chai nhựa (Aquafina), 1 ca nhôm có đường kính lớn hơn chai. |
Bong bóng bọc kín miệng chai nhựa rồi đặt vào ca nhôm. Đổ nước sôi vào ca, nhiệt độ truyền vào chai làm các phân tử khí chuyển động hỗn loạn nhanh hơn, tăng tần suất va chạm vào thành bình và màng bóng, làm bóng căng phồng lên. |
Bài 28: Cấu tạo chất. Thuyết động học phân tử chất khí |
| Hiện tượng căng bề mặt của chất lỏng |
Khung dây đồng, vòng dây chỉ buộc lỏng trên khung, dung dịch xà phòng. |
Nhúng khung vào dung dịch xà phòng tạo màng căng. Khi chọc thủng phần màng bên trong vòng dây chỉ, lực căng bề mặt của màng xà phòng còn lại kéo đều dây chỉ về mọi phía vuông góc, làm vòng chỉ tự động căng tròn. |
Bài 37: Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng |
Bên cạnh việc chế tạo thiết bị, tác giả xây dựng quy trình thiết kế giáo án gồm 5 bước và áp dụng cụ thể vào Bài 36 "Sự nở vì nhiệt của vật rắn". Bài giảng xác lập ma trận mục tiêu chi tiết gồm: nhóm năng lực kiến thức (K1 đến K4), nhóm năng lực phương pháp (P1, P2, P3, P5, P7, P8) và nhóm năng lực trao đổi thông tin (X1, X5, X6, X8). Chuỗi hoạt động dạy học được phân bổ thành 4 hoạt động nối tiếp kết hợp 3 phiếu học tập xử lý số liệu thực nghiệm.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Nội dung chương 3 được thiết kế nhằm kiểm định tính khả thi của các bộ thí nghiệm tự tạo và đánh giá tác động của tiến trình dạy học đề xuất lên chất lượng lĩnh hội của học sinh:
- Tổ chức thực nghiệm: Lựa chọn mẫu học sinh tại trường THPT Trần Văn Dư (huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) được phân chia thành nhóm thực nghiệm (dạy học có sử dụng thí nghiệm tự tạo kết hợp giải quyết vấn đề) và nhóm đối chứng (dạy học theo phương pháp truyền thống).
- Công cụ đo lường và hệ thống tham số: Sử dụng bài kiểm tra đánh giá kiến thức sau thực nghiệm. Dữ liệu điểm số được tác giả cấu trúc và xử lý thông qua hệ thống bảng biểu thống kê bao gồm: Bảng 3.1 (Mẫu thực nghiệm), Bảng 3.2 (Bảng phân phối tần số $f_i$ các điểm số $X_i$), Bảng 3.3 (Bảng phân phối tần suất), Bảng 3.4 (Phân phối tần suất tích lũy), Bảng 3.5 (Phân loại theo học lực của học sinh) và Bảng 3.6 (Các tham số thống kê đặc trưng như điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn).
- Kết quả đánh giá định tính: Học sinh nhóm thực nghiệm thể hiện thái độ hứng thú, tích cực tham gia thảo luận nhóm, chủ động quan sát hiện tượng và tiếp thu bản chất vật lý tự nhiên hơn so với phương pháp dạy chay.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính của nghiên cứu:
- Xây dựng thành công quy trình chế tạo dụng cụ thí nghiệm gồm 9 bước và quy trình thiết kế giáo án nêu và giải quyết vấn đề gồm 5 bước.
- Chế tạo hoàn chỉnh 4 mô hình thí nghiệm tự tạo cho phần Nhiệt học từ các phế liệu, vật tư sinh hoạt hàng ngày (vỏ chai nhựa, săm van xe máy cũ, kim tiêm, bong bóng, thanh nhôm, khung dây đồng). Các mô hình hoạt động ổn định, hiện tượng trực quan rõ ràng.
- Thiết kế giáo án thực nghiệm chi tiết cho bài học "Sự nở vì nhiệt của vật rắn", tích hợp phiếu học tập định lượng và định hướng rõ các chỉ số năng lực chuyên môn cho học sinh.
Các giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Đối với nhà trường và tổ chuyên môn: Cần đầu tư kinh phí hợp lý cho hoạt động tự làm đồ dùng dạy học; thành lập các câu lạc bộ, hội thảo trao đổi kinh nghiệm chế tạo thiết bị giữa giáo viên trong và ngoài trường; tổ chức thường niên các hội thi sáng tạo đồ dùng dạy học.
- Đối với giáo viên: Cần khắc phục tâm lý ngại tốn thời gian, chủ động phân loại các bài học có thể tích hợp thí nghiệm tự chế; tăng cường giao nhiệm vụ tự làm thí nghiệm đơn giản tại nhà cho học sinh nhằm phát triển tư duy sáng tạo kỹ thuật.
- Đối với cấp quản lý giáo dục: Cần có chế độ khen thưởng, cộng điểm thi đua hoặc giảm trừ định mức tiết dạy cho giáo viên tích cực nghiên cứu, chế tạo thiết bị dạy học.
Đóng góp của đề tài so với nghiên cứu trước:
Khóa luận kế thừa kết quả của các công trình đi trước (Huỳnh Trọng Dương - 2007 về THCS, Trần Thị Trang - 2013 về phần Điện học lớp 11, Trương Ngọc Điều - 2010 về Nhiệt học lớp 10 nâng cao), nhưng tập trung giải quyết đúng thực trạng thiếu thốn thiết bị tại các trường THPT vùng huyện (cụ thể là huyện Phú Ninh, Quảng Nam) áp dụng cho chương trình Vật lí 10 ban Cơ bản. Tác giả đã biến các nguyên vật liệu phế thải thành phương tiện trực quan hiệu quả, kết hợp chặt chẽ việc biểu diễn thí nghiệm với quy trình 4 mức độ dạy học nêu vấn đề.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Các bộ thí nghiệm chế tạo được chủ yếu phục vụ khảo sát định tính hiện tượng, chưa thực hiện được các phép đo định lượng chính xác tuyệt đối do vật liệu thô sơ.
- Độ bền cơ học của vật liệu tái chế (nhựa, cao su, chỉ) không cao, dễ bị lão hóa hoặc biến dạng sau một thời gian bảo quản.
- Tính thẩm mỹ của các mô hình còn hạn chế, phụ thuộc vào tay nghề gia công thủ công của giáo viên.
- Phạm vi thử nghiệm chỉ mới triển khai tại trường THPT Trần Văn Dư trong phạm vi một số bài học của phần Nhiệt học lớp 10.
Hướng phát triển:
- Tiếp tục nghiên cứu, cải tiến kết cấu để nâng cao độ bền, tính thẩm mỹ và bổ sung các cảm biến/thước đo giúp chuyển hóa các thí nghiệm định tính thành thí nghiệm định lượng.
- Mở rộng phạm vi thiết kế thí nghiệm tự tạo sang các phần kiến thức khác trong chương trình Vật lý phổ thông (Cơ học, Quang học, Điện từ học) cho cả khối 11 và 12.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Vật lý tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm làm tài liệu tham khảo khi thực tập sư phạm hoặc nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp về lý luận dạy học.
- Giáo viên bộ môn Vật lý tại các trường THPT (đặc biệt là các trường vùng khó khăn, thiếu thiết bị thực hành chuẩn) tham khảo ý tưởng chế tạo đồ dùng dạy học giá rẻ và cách tổ chức hoạt động dạy học nêu vấn đề.
Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là bản hướng dẫn vật liệu, các bước lắp ráp 4 mô hình thí nghiệm tại Chương 2 và cấu trúc giáo án thực nghiệm chi tiết của Bài 36 với hệ thống phiếu học tập cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Mô hình thí nghiệm kiểm chứng định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt trong khóa luận hoạt động dựa trên cấu tạo nào?
Thí nghiệm sử dụng 2 vỏ chai nhựa (Pepsi/Coca-Cola), 4 van xăm xe máy, ống cao su, 1 bình nhựa trên đỉnh, van khóa điều chỉnh cùng một bộ xi lanh - kim tiêm làm vòi phun. Khi mở khóa, nước từ khay chảy xuống xi lanh vào chai 2, dồn nén không khí; áp suất khí tăng truyền qua dây dẫn sang chai 1, ép nước trong chai 1 phun ngược lên vòi kim tiêm.
2. Thí nghiệm kiểm chứng sự nở vì nhiệt của vật rắn được thiết kế nhằm báo hiệu hiện tượng bằng cách nào?
Tác giả bố trí 2 thanh nhôm tròn nhỏ dài 10 cm trên khung gỗ có chừa một khe hở nhỏ ở giữa, nối liên tiếp vào mạch điện chứa nguồn pin và bóng đèn LED. Khi dùng đèn cồn hơ nóng, nhôm nở dài khép kín khe hở, làm thông mạch điện và đèn LED bật sáng; khi để nguội, nhôm co lại ngắt mạch, đèn LED tắt.
3. Tác giả đề xuất quy trình hướng dẫn học sinh tự làm thí nghiệm ở nhà gồm mấy bước?
Quy trình gồm 7 bước:
- Thảo luận ở lớp về các phương án thiết kế, chế tạo và tiến hành.
- Liệt kê các chi tiết, vật liệu có thể tìm kiếm được trên thị trường hoặc trong gia đình.
- Vẽ sơ đồ tổng thể thiết bị, thí nghiệm.
- Vẽ sơ đồ cấu tạo từng chi tiết và lưu ý khi gia công.
- Hướng dẫn cách lắp ráp chi tiết theo sơ đồ tổng thể.
- Hướng dẫn vận hành thử thiết bị.
- Đưa vào sử dụng trong học tập.
4. Khóa luận phân chia dạy học nêu và giải quyết vấn đề thành các giai đoạn nào?
Tiến trình gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Đề xuất vấn đề (đưa học sinh vào tình huống có vấn đề nhằm xuất hiện mâu thuẫn nhận thức).
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu giải quyết vấn đề và kết luận (đề xuất giải pháp lý thuyết hoặc thực nghiệm để rút ra tri thức mới).
- Giai đoạn 3: Củng cố và vận dụng kiến thức (vận dụng tri thức giải quyết vấn đề tương tự hoặc mới mẻ hơn).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Dương Thị Nhật đã giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng và sử dụng thiết bị thí nghiệm tự tạo phần Nhiệt học Vật lí 10 Cơ bản tại trường THPT Trần Văn Dư. Công trình cung cấp giải pháp kỹ thuật sư phạm cụ thể với 4 mô hình thí nghiệm trực quan, dễ chế tạo từ phế liệu đời sống, giúp khắc phục tình trạng thiếu hụt cơ sở vật chất ở trường phổ thông. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc tích hợp thí nghiệm tự chế vào mô hình dạy học nêu và giải quyết vấn đề là hướng đi khả thi, góp phần nâng cao tính chủ động và chất lượng tiếp thu của học sinh.