CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài Tại sao một số quốc gia quá giàu trong khi một số khác lại quá nghèo? Câu hỏi được Adam Smith đặt ra ngay tựa đề của tác phẩm “An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations” vào năm 1776. Hơn 200 năm sau, câu hỏi này lại được hai nhà nghiên cứu kinh tế là Daron Acemoglu & James Robinson đề cập trong tác phẩm nổi tiếng “Why nations fail: the origins of power, prosperity, and poverty” vào năm 2012. Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu vĩ mô hàng đầu của chính phủ các quốc gia. Todaro & Smith (2015) nhận định tăng trưởng kinh tế là một quá trình ổn định mà theo đó năng lực sản xuất của nền kinh tế được tăng lên theo thời gian để mang lại mức tăng sản lượng quốc gia và gia tăng thu nhập.
Có thể thấy, tăng trưởng kinh tế thể hiện bởi khối lượng của cải của quốc gia không ngừng tăng lên, các lý thuyết tăng trưởng đã chỉ rõ sự gia tăng này có thể đạt được qua việc bổ sung thêm yếu tố đầu vào cho sản xuất như vốn, lao động, hoặc bằng cách sử dụng tốt hơn các yếu tố đầu vào với mức tiêu phí ngày càng ít hơn để thu được sản phẩm đầu ra ngày càng nhiều và có chất lượng cao hơn. Mặc dù đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế khá cao qua hai thập kỷ gần đây, nhưng đa số các quốc gia đang phát triển vẫn chưa bắt kịp về mức thu nhập bình quân so với các nước phát triển. Trong bối cảnh mà tác động của việc gia tăng vốn và lao động đến tăng trưởng đang dần giảm sút, các quốc gia đang phát triển muốn tiếp tục đạt được sự tăng trưởng thì nhất thiết phải tạo ra năng suất ngày càng cao. Báo cáo về triển vọng phát triển toàn cầu, OECD (2014) đã đề cập tới việc cần phải thúc đẩy tăng năng suất để duy trì tăng trưởng trong tương lai cho các nền kinh tế đang phát triển.
Đánh giá tầm quan trọng của năng suất tới tăng trưởng trong dài hạn, Krugman (1997, trang 11) nhận định “Năng suất không phải là tất cả, nhưng về lâu dài thì nó gần như là tất cả. Khả năng không 2 ngừng nâng cao mức sống của một đất nước phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào khả năng tăng sản lượng trên đầu công nhân của nước đó”. Như vậy, năng suất là chỉ số thể hiện những tiến bộ về hiệu quả của nền kinh tế, nó phản ánh chất lượng tăng trưởng của một quốc gia. Do đó, nâng cao năng suất là một trong những vấn đề rất được quan tâm từ trước đến nay trên phạm vi nền kinh tế, ngành và doanh nghiệp.
Kể từ khi Solow (1956) giới thiệu lý thuyết tăng trưởng kinh tế của mình, khái niệm năng suất yếu tố tổng hợp (Total factor productivity - TFP) đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và phân tích. Hầu hết các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế gần đây, đặc biệt là lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã nhận định năng suất yếu tố tổng hợp là yếu tố tạo nên sự khác biệt về tăng trưởng giữa các quốc gia, đồng thời nó còn phản ánh chất lượng tăng trưởng trong dài hạn. Lý thuyết này cũng xác định một số yếu tố như mở cửa kinh tế, vốn con người là yếu tố quan trọng trong việc gia tăng TFP. Trong khi đó, trường phái kinh tế học thể chế mới khởi nguồn từ nhà kinh tế Ronald Coase cho rằng thể chế là yếu tố gốc rễ ảnh hưởng tới hiệu quả của nền kinh tế.
Với lập luận các giao dịch trong nền kinh tế đều mất chi phí và khi đó các thể chế ràng buộc đóng vai trò quan trọng. Coase (1998) nhận định chuyên môn hóa chỉ khả thi khi có trao đổi, và chi phí trao đổi càng thấp, trình độ chuyên môn hóa càng cao và năng suất càng lớn, chi phí trao đổi phụ thuộc vào các thể chế của một quốc gia. Xuất phát từ ý tưởng của Ronald Coase, kinh tế học thể chế mới đã được quan tâm nghiên cứu như một lý thuyết về tăng trưởng kinh tế.North, một nhà nghiên cứu tiêu biểu cho trường phái kinh tế học thể chế mới đã nhận xét như sau: “Những yếu tố như mở rộng thị trường, cải tiến công nghệ và cả tăng cường sự đầu tư cho con người đều đóng góp một phần trong tăng trưởng năng suất. Nhưng chúng ta giải thích thế nào về sự tiếp diễn của tình trạng đói nghèo ở nhiều nơi trên thế giới một khi chúng ta đã biết rõ nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng kinh tế? Câu trả lời nằm ở sự thất bại của con người khi đảm trách những đổi mới để gia tăng sản lượng.
Khung thể chế của một xã hội tạo ra cơ chế khuyến khích, tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế và chính trị, và chúng ta biết rõ về nền tảng thể chế cho sự tăng trưởng kinh tế thành công. Trước đó, North & Thomas 3 (1973) đã phân tích nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng khi phân tách yếu tố quyết định tác động tới phát triển kinh tế bao gồm yếu tố trực tiếp (Proximate determinants) và yếu tố căn nguyên (Fundamental determinants), cụ thể hai tác giả biện luận mối quan hệ trong đó xem thể chế là yếu tố căn nguyên dẫn tới phát triển kinh tế qua sơ đồ sau: TFP Thể chế Vốn con người Phát triển kinh tế Vốn vật chất Qua việc phân tích các lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết về kinh tế học thể chế mới, có thể thấy mỗi lý thuyết đều đề cập tới yếu tố chính mà nó nghiên cứu. Vậy yếu tố nào là căn nguyên giúp gia tăng năng suất (vốn con người, công nghệ, hay nền tảng thể chế của quốc gia) để từ đó tạo động lực cho tăng trưởng là chủ đề còn nhiều tranh luận giữa các nhà nghiên cứu. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm từ trước đến nay hầu hết chỉ xem xét vai trò của thể chế và TFP như những yếu tố độc lập trong mô hình mà chưa nhấn mạnh mối quan hệ giữa thể chế, TFP và tăng trưởng để xem chúng tương tác với nhau như thế nào, yếu tố nào là gốc rễ dẫn tới tăng trưởng dài hạn.
Xuất phát từ những nhận định trên, trước bối cảnh mà các quốc gia, đặc biệt là nhóm quốc gia đang phát triển vẫn tiếp tục tìm kiếm mô hình tăng trưởng phù hợp để có thể bắt kịp với các nền kinh tế phát triển, đề tài nghiên cứu về: “Thể chế , năng suất yếu tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu các quốc gia đang phát triển” là cần thiết nhằm củng cố thêm về mặt lý thuyết và bổ sung các bằng chứng thực nghiệm về vai trò của thể chế, TFP, cũng như mối quan hệ của chúng tới tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Từ những kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra một số hàm ý chính sách đối với việc cải thiện, nâng cao chất lượng thể chế và thúc đẩy tăng trưởng TFP tại các quốc gia này.2 Khoảng trống nghiên cứu Về mặt lý thuyết: Lý thuyết tăng trưởng do Solow (1956, 1957) phát triển đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về kinh tế. Trong mô hình của mình, ngoài hai yếu tố vốn và lao động, Solow đã đề cập tới yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ (A) hay được xem là TFP, bởi tiến bộ công nghệ ở đây hàm ý là những yếu tố làm gia tăng hiệu quả sử dụng của vốn và lao động. Và theo Solow thì chỉ có tiến bộ công nghệ sẽ đem đến sự tăng trưởng ổn định trong dài hạn.
Tuy nhiên, yếu tố A hay TFP này lại là ngoại sinh trong mô hình và trong lý thuyết của mình, Solow cũng không chỉ rõ yếu tố nào dẫn tới tiến bộ công nghệ hay làm gia tăng hiệu quả sử dụng của vốn và lao động. Dựa trên nền tảng lý thuyết tân cổ điển, Romer (1986, 1990) và Lucas (1988) cùng một số nhà nghiên cứu khác đã phát triển mô hình tăng trưởng nội sinh trong đó phân tích sâu hơn về các yếu tố dẫn tới tiến bộ công nghệ, gia tăng năng suất của nền kinh tế. Trong mô hình này yếu tố nổi bật mà các tác giả đề cập đó là tri thức hay còn gọi là vốn con người, nó được hình thành qua quá trình tích lũy về giáo dục, y tế. Yếu tố này là nguyên nhân dẫn tới các phát minh, sáng chế qua đó thúc đẩy tiến bộ công nghệ và dẫn tới năng suất gia tăng.
Thời gian gần đây, lý thuyết kinh tế học thể chế mới nổi lên qua các nghiên cứu của North (1990), Acemoglu & cộng sự (2005), Acemoglu & Robinson (2012), đã đưa những minh chứng rất chặt chẽ để khẳng định nền tảng thể chế là căn nguyên của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia. Lập luận của lý thuyết này cho rằng chất lượng thể chế kinh tế, chính trị là yếu tố tác động tới các yếu tố tích lũy trong mô hình tăng trưởng truyền thống, qua đó ảnh hưởng tới hiệu suất nền kinh tế trong dài hạn. North đã chỉ ra sự thiếu sót của lý thuyết tăng trưởng truyền thống qua nhận định sau: “Một hạn chế cơ bản của kinh tế học truyền thống khi tiếp cận các nguồn cho tăng trưởng năng suất là nó không đưa vấn đề tăng trưởng và năng suất vào một bối cảnh thể chế năng động” (North, 1994, trang 9). 5 Luận án nhận thấy các lý thuyết tăng trưởng vẫn còn tiếp tục tranh luận và tìm kiếm yếu tố căn nguyên dẫn tới tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, mặc dù được thừa nhận là một yếu tố có tác động tới tăng trưởng nhưng việc nghiên cứu để đưa thể chế vào khung phân tích của lý thuyết tăng trưởng truyền thống cũng mới bắt đầu thời gian gần đây. Sala-i-Martin (2002) cũng nhận định, hiện vẫn đang trong giai đoạn đầu khi đề cập tới thể chế vào các lý thuyết tăng trưởng. Về mặt nghiên cứu thực nghiệm: Thứ nhất: Đa số các nghiên cứu xem xét riêng từng mối quan hệ của thể chế đến tăng trưởng, của TFP đến tăng trưởng, còn ít nghiên cứu cùng đưa cả thể chế, TFP vào mô hình để cùng phân tích tác động tới tăng trưởng. Trong khi như lập luận của lý thuyết kinh tế học thể chế mới thì ba yếu tố này là một chuỗi quan hệ tương tác với nhau, trong đó thể chế và năng suất có quan hệ qua lại thúc đẩy nhau từ đó tác động tới tăng trưởng kinh tế.