lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 5 chƣơng với nội dung cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Giới thiệu nghiên cứu - Chƣơng 2: Tổng quan nghiên cứu - Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Chƣơng 5: Kết luận và gợi ý chính sách 7 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. KHÁI NIỆM, CÁCH ĐO LƢỜNG, VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỨC ĐỘ PHỨC TẠP CỦA NỀN KINH TẾ 1. Khái niệm và đo lƣờng mức độ phức tạp của nền kinh tế Tri thức là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất. Do tri thức đƣợc lƣu trữ và phân tán giữa các cá nhân một cách vô hình thông qua sự tƣơng tác giữa họ trong quá trình sản xuất, sản phẩm – đầu ra của quá trình đó đƣợc coi là phƣơng tiện chuyển giao và tích hợp tri thức của con ngƣời (Hausmann và cộng sự, 2014).
Theo đó, thị trƣờng chính là nền tảng kích thích sự trao đổi và chuyển giao lƣợng tri thức khổng lồ của xã hội. Căn cứ vào cách thức và khả năng chuyển giao, tri thức đƣợc chia thành hai nhóm: tri thức rõ ràng (explicit knowledge) và tri thức ngầm (tacit knowledge). Cụ thể, tri thức rõ ràng có thể đƣợc mã hóa bằng cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh và con số và do đó, dễ dàng đƣợc chuyển giao thông qua các hình thức truyền thông cơ bản. Tuy nhiên, tri thức ngầm là dạng tri thức mang tính cá nhân và khó diễn đạt, ví dụ nhƣ niềm tin, hiểu biết hay kinh nghiệm, chỉ có thể đƣợc thể hiện và chuyển giao thông qua quá trình ứng dụng (Nonaka, 1994).
Hầu hết tri thức cần thiết cho quá trình sản xuất là dạng tri thức ngầm trong khi việc chuyển giao dạng tri thức này diễn ra chậm chạp, tốn kém và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đây đƣợc coi là một rào cản đối với tăng trƣởng kinh tế (Hausmann và cộng sự, 2014). Do đó, để tăng tốc sản xuất và nâng cao hiệu quả, các cá nhân và doanh nghiệp cần thực hiện chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, mỗi cá nhân sẽ chuyên thực hiện các hoạt động cụ thể mà họ có sẵn tri thức ngầm liên quan đến lĩnh vực đó.
Ý tƣởng này đƣợc phát triển thêm trong lý thuyết phân công lao động do Adam Smith (1776) đề xuất. Theo lý thuyết này, bí quyết làm nên sự giàu có của một quốc gia chính là sự phân công lao động trong đó các cá nhân và doanh nghiệp chuyên môn hóa trong các hoạt động khác nhau để nâng cao hiệu quả kinh tế. Khi một quốc gia có quy mô thị trƣờng lao động lớn hơn, quốc gia đó có nhiều cá nhân hơn để có thể thực hiện chuyên môn hóa. Từ đó, sự phân công lao động đƣợc mở rộng (Hidalgo và cộng sự, 2009).
Tuy nhiên, đóng góp của phân công lao động vào tăng trƣởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào lƣợng tri thức đƣợc lƣu trữ trong xã hội mà còn phụ thuộc vào cách thức liên kết (tích hợp) các phần tri thức (có tính đa dạng) thông qua mức độ hiệu quả trong việc 8 tƣơng tác giữa các cá nhân với nhau trong quá trình sản xuất (Hausmann và cộng sự, 2014). Hausmann và cộng sự (2014) nhấn mạnh: ―sự phân công lao động là phƣơng thức cho phép chúng ta tiếp cận lƣợng tri thức mà không ai trong chúng ta có thể nắm giữ một cách riêng lẻ‖. Trong quá trình hình thành, quản lý và vận hành các hoạt động sản xuất, các cá nhân đang nắm giữ những phần tri thức đa dạng cần phải đƣợc tƣơng tác với nhau để cùng phục vụ cho sản xuất (Felipe và cộng sự, 2012). Điều này kích thích sự phát triển năng lực sản xuất ở các cấp độ khác nhau bao gồm cá nhân, tổ chức và mạng lƣới các tổ chức (Hausmann và cộng sự, 2011).
Mặc dù các cá nhân có thể chia sẻ kiến thức chuyên môn của mình thông qua các thị trƣờng toàn cầu, nhƣng quá trình này gặp phải nhiều rào cản do những ràng buộc về sở hữu trí tuệ, quy định pháp lý hay những sự khác biệt về cơ sở hạ tầng và kỹ năng lao động cụ thể (Hidalgo và Hausmann, 2009). Thay vào đó, một quốc gia cần tự chủ động phát triển năng lực sản xuất đa dạng để tạo điều kiện cho sự phân công lao động của chính mình (Hidalgo và cộng sự, 2009). Một khi quốc gia đó đã phát triển đƣợc bộ năng lực đa dạng này, quốc gia đó có thể tồn tại và tự duy trì bằng cách sử dụng khối tri thức đa dạng mà ngƣời dân sở hữu để tạo ra bất kỳ sản phẩm nào mà họ muốn (Hausmann và cộng sự, 2014). Khái niệm mức độ phức tạp kinh tế có thể đƣợc khái quát thông qua nghiên cứu của Hidalgo (2021) là mức độ tri thức tích lũy trong cộng đồng dân cƣ một quốc gia (economic complexity), phản ánh chất lƣợng của các nhân tố sản xuất và cách thức các nhân tố này đƣợc chuyển hóa thành sản phẩm đầu ra.
Mức độ khác biệt về mức độ phức tạp kinh tế, hay trình độ phát triển (và gần nhƣ là mức độ thịnh vƣợng) giữa các quốc gia có thể đƣợc giải thích thông qua sự khác biệt về mức độ phức tạp kinh tế (hay hàng hóa mà quốc gia đó sản xuất ra). Tầm quan trọng của mức độ phức tạp của nền kinh tế Khái niệm về mức độ phức tạp của nền kinh tế đã mở ra cách tiếp cận mới trong việc đƣa ra các chính sách tăng trƣởng của các quốc gia, đó là, sự phát triển kinh tế không thể duy trì bằng cách sản xuất ngày càng nhiều một nhóm hàng hóa nhất định. Thay vào đó, nền kinh tế cần nỗ lực liên tục để tạo ra sản phẩm mới hơn và độc đáo hơn. Rodrik (2014) cho rằng hai nhân tố cốt lõi tạo đà cho tăng trƣởng dài hạn bao gồm tích lũy năng lực sản xuất và tạo ra chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Cụ thể, các quốc gia cần tiến hành song song hai việc: (1) tạo ra các ngành có năng suất cao hơn, và (2) 9 chuyển lao động từ các ngành năng suất thấp sang các ngành cao có năng suất cao hơn. Từ đó, quốc gia đó có thể phát triển cơ cấu sản xuất đa dạng và sản xuất nhiều hàng hóa tinh vi, độc đáo với năng suất cao và đạt đƣợc mức tăng trƣởng cao hơn trong dài hạn. Các học giả nhƣ Felipe và cộng sự (2012) và Hausmann và Klinger (2006) đƣa ra định nghĩa về chuyển đổi cấu trúc sản xuất, đó là, ―quá trình thay đổi những gì đƣợc sản xuất và cách thức sản xuất ra chúng‖. Yildirim (2014) cho rằng việc chuyển sang các ngành sản xuất mới và hiệu quả hơn là động lực chính thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Hơn nữa, Yildirim (2014) cũng lập luận rằng quá trình đa dạng hóa các ngành sản xuất cuối cùng sẽ dẫn đến sự tinh vi và độc đáo của sản phẩm đầu ra. Theo Akhtar và Freire (2014), khi các quốc gia thực hiện đa dạng hóa cơ cấu sản xuất, tổng sản lƣợng sẽ tăng lên. Nói cách khác, tăng trƣởng cao hơn có liên quan trực tiếp đến đa dạng các sản phẩm xuất khẩu. Theo kinh nghiệm của các học giả nhƣ Al-Marhubi (2000) và Agosin (2007), đa dạng hóa cơ cấu sản xuất, từ đó, đa dạng hóa xuất khẩu là một yếu tố quan trọng, góp phần quyết định đến phát triển kinh tế và ảnh hƣởng tích cực đến tăng trƣởng trong dài hạn.
Tuy nhiên, việc sản xuất ra các hàng hóa tinh vi, độc đáo, có năng suất cao cũng đòi hỏi nhiều tri thức và năng lực sản xuất hơn. Hausmann và cộng sự (2007) cho rằng việc chuyên môn hóa trong sản xuất một số hàng hóa nhất định tạo ra mức tăng trƣởng cao hơn. Hausmann và cộng sự (2007) gợi ý rằng các nƣớc chuyên sản xuất các sản phẩm đƣợc xuất khẩu bởi các nƣớc giàu sẽ có tốc độ tăng trƣởng cao hơn bởi vì các nƣớc giàu nói chung xuất khẩu các sản phẩm tinh vi, có năng suất cao. Nói cách khác, xuất khẩu hàng hóa có năng suất cao (hay cũng chính là các sản phẩm mà các nƣớc giàu đang xuất khẩu) sẽ mang lại tăng trƣởng kinh tế nhanh chóng.
Theo đó, tăng trƣởng kinh tế đòi hỏi các quốc gia phải nâng cao năng lực sản xuất và cụ thể là lƣợng tri thức tích lũy của mình để thâm nhập thành công vào những lĩnh vực có năng suất cao hơn (Hidalgo và cộng sự, 2009). Bằng chứng thực nghiệm tại nhiều nƣớc trên thế giới đều khẳng định vai trò của sự tạp của nền kinh tế đối với tăng trƣởng. Felipe và cộng sự (2010) phát hiện rằng lý do đằng sau tốc độ tăng trƣởng cao gần đây ở 31 quốc gia châu Á nhƣ Hàn Quốc và Singapore là do việc thực hiện thành công chuyển đổi cơ cấu. Hơn nữa, Felipe và cộng sự (2010) cho rằng Trung Quốc hiện đang trải qua quá trình chuyển đổi này và điều này giải thích cho tốc độ tăng trƣởng cao của Trung Quốc.
Tƣơng tự, Hausmann và 10 cộng sự (2011) đã phân tích mối quan hệ giữa mức độ phức tạp của nền kinh tế và tăng trƣởng kinh tế dựa trên số liệu của 128 quốc gia trên thế giới và đƣa ra kết luận rằng mức độ phức tạp của nền kinh tế có thể giải thích 75% sự thay đổi trong thu nhập bình quân đầu ngƣời. Abdon và Felipe (2011) đã phân tích sự phát triển kinh tế của các nƣớc Châu Phi cận Sahara và phát hiện ra rằng hầu hết các quốc gia này đều mắc kẹt trong việc sản xuất các sản phẩm phần kém tinh vi và nghèo nàn về sự đa dạng. Hơn thế nữa, năng lực sản xuất của các quốc gia này sẽ không đủ để tạo ra sự chuyển dịch sang sản xuất các sản phẩm phức tạp hơn. Đây chính là lý do cốt lõi giải thích cho tình trạng kinh tế trì trệ tại khu vực này.
Do đó, để thúc đẩy tăng trƣởng, chính phủ các nƣớc này phải thúc đẩy các chính sách tạo ra động lực đầu tƣ vào các sản phẩm phức tạp hơn. Jankowska và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu lý do tại sao các Quốc gia Châu Mỹ Latinh lại không thành công nhƣ các Quốc gia Châu Á trong việc thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Họ lập luận rằng, hầu nhƣ tất cả các quốc gia thoát đƣợc khỏi bẫy thu nhập trung bình thành công đều thông qua việc tham gia vào quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ các ngành sản xuất đơn giản sang ngành sản xuất những sản phẩm tinh vi hơn, mang lại năng suất cao hơn.