BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------------------ VÕ THỊ THẢO NGUYÊN MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN ĐỘNG MANG TÍNH CHU KỲ CỦA KINH TẾ VĨ MÔ, THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ GIÁ DẦU Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------------------ VÕ THỊ THẢO NGUYÊN MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN ĐỘNG MANG TÍNH CHU KỲ CỦA KINH TẾ VĨ MÔ, THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ GIÁ DẦU Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Võ Thị Thảo Nguyên, tác giả của luận văn thạc sĩ “Mối quan hệ giữa các biến động mang tính chu kỳ của kinh tế vĩ mô, thị trường chứng khoán và giá dầu ở Việt Nam”.
Tôi xin cam đoan: Nội dung của luận văn là kết quả nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Ngọc Trang. Luận văn được thực hiện và hoàn tất một cách độc lập, tự thân. Tất cả các số liệu là trung thực và được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy, kết quả nghiên cứu được lấy từ phần mềm kinh tế lượng, không sao chép từ các nguồn khác.
Tất cả tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn này đều có trích dẫn đầy đủ và rõ ràng. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2014 Tác giả đề tài Võ Thị Thảo Nguyên MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG DANH MỤC HÌNH TÓM TẮT 1. NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU. Các thành phần của một chuỗi thời gian.
Các yếu tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán. Tác động giá dầu trên các chỉ số kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU. Mô hình VAR / VECM.
Biến nghiên cứu và dữ liệu. Các thành phần mang tính chu kỳ. Kiểm định nghiệm đơn vị. Các bước thực hiện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. Phương pháp tiếp cận đồng liên kết và VECM. Lựa chọn độ trễ thích hợp. Kiểm định đồng liên kết.
Kiểm định tính ổn định của mô hình. Kiểm định mối quan hệ nhân quả. Kết quả ước lượng mô hình VECM. Hàm xung động phản hồi.
Phân rã phương sai của mô hình VECM. Phương pháp tiếp cận VAR. Kết quả sơ bộ. Kết quả VAR.
62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ADF : Augmented Dickey-Fuller AIC : Akaike Information Criterion (Tiêu chuẩn thông tin Akaike) APT : Arbitrage Pricing Theory (Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá) BK : Baxter – King CF : Christian - Fitzgerald CPI : Consumer price index (Chỉ số giá tiêu dùng) ECM : Error Correction Model EIA : Energy Information Administration (Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng) FPE : Final prediction error (Sai số dự đoán cuối cùng) GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội) GSO : General Statistics Office of Vietnam (Tổng cục thống kê Việt Nam) HOSE : Ho Chi Minh Stock Exchange (Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) HP : Hodrick-Prescott HQ : Hannan-Quinn information criterion (Tiêu chuẩn thông tin của Hannan – Quinn) IFS : International Financial Statistics (Thống kê tài chính Quốc tế) IIP : Index Industry Products (Chỉ số sản xuất công nghiệp) ISE : Istanbul Stock Exchange (Chỉ số chứng khoán Istabul) LR : Likelihood Ratio OECD : Organization for Economic Co-operation and Development (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) PP : Phillips Perron SC : Schwarz information criterion (Tiêu chuẩn thông tin Schwarz) VAR : Vector AutoRegression VECM : Vector Error Correction Model WTI : West Texas Intermediate DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 - Mô tả các biến trong mô hình Bảng 3.2 - Kiểm định nghiệm đơn vị theo tiêu chuẩn ADF và PP Bảng 4.1 - Kết quả lựa chọn độ trễ cho mô hình VECM Bảng 4.2 - Kiểm định đồng liên kết mô hình VECM Bảng 4.3 - Vectơ đồng liên kết Bảng 4.4 - Kiểm định nhân quả Granger Bảng 4.5 - Kết quả VECM Bảng 4.6 - Thống kê mô tả các thành phần mang tính chu kỳ theo bộ lọc Hodrick- Prescott Bảng 4.7 - Thống kê mô tả các thành phần mang tính chu kỳ theo bộ lọc Baxter- King Bảng 4.8 - Kiểm định đồng liên kết các thành phần mang tính chu kỳ theo bộ lọc Hodrick-Prescott Bảng 4.9 - Kiểm định đồng liên kết các thành phần mang tính chu kỳ theo bộ lọc Baxter-King Bảng 4.10 - Kết quả lựa chọn độ trễ cho mô hình VAR của các thành phần mang tính chất chu kỳ theo bộ lọc Hodrick-Prescott Bảng 4.11 - Kết quả lựa chọn độ trễ cho mô hình VAR của các thành phần mang tính chất chu kỳ theo bộ lọc Baxter-King Bảng 4.12 - Kết quả kiểm định tính ổn định của hai mô hình VAR với độ trễ 2 Bảng 4.13 - Kết quả các mô hình VAR DANH MỤC HÌNH Hình 4.1 - Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình VECM với độ trễ 1 Hình 4.2 - Hàm phản ứng xung của mô hình VECM Hình 4.3 - Phân rã phương sai của chỉ số giá tiêu dùng Hình 4.4 - Phân rã phương sai của chỉ số VNIndex Hình 4.5 - Phân rã phương sai của chỉ số sản xuất công nghiệp Hình 4.6 - Đồ thị biểu diễn các thành phần mang tính chu kỳ theo bộ lọc Hodrick- Prescott Hình 4.7 - Đồ thị biểu diễn các thành phần mang tính chu kỳ theo bộ lọc Baxter- King Hình 4.8 - Hàm phản ứng xung của các thành phần mang tính chu kỳ của chỉ số giá tiêu dùng Hình 4.9 - Hàm phản ứng xung của các thành phần mang tính chu kỳ của chỉ số VNIndex Hình 4.10 - Hàm phản ứng xung của các thành phần mang tính chu kỳ của chỉ số sản xuất công nghiệp Hình 4.11 - Phân rã phương sai của thành phần mang tính chu kỳ của chỉ số giá tiêu dùng Hình 4.12 - Phân rã phương sai của thành phần mang tính chu kỳ của chỉ số VNIndex Hình 4.13 - Phân rã phương sai của thành phần mang tính chu kỳ của chỉ số sản xuất công nghiệp 1 TÓM TẮT Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số sản xuất công nghiệp, thị trường chứng khoán và giá dầu ở Việt Nam. Ban đầu phân tích được thực hiện với một khuôn khổ thống kê bao gồm kiểm định đồng liên kết và mô hình VECM để nghiên cứu các chuỗi dữ liệu gốc. Sau đó một mô hình VAR đa biến được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa các thành phần mang tính chu kỳ của các chuỗi dữ liệu. Giai đoạn mẫu của nghiên cứu là từ tháng 01/2001 đến tháng 06/2014.
Kết quả phân tích VECM cho thấy giá dầu thế giới có mối tương quan cùng chiều với chỉ số giá tiêu dùng. Trong khi đó, thị trường chứng khoán và chỉ số sản xuất công nghiệp lại có mối tương quan ngược chiều với chỉ số giá tiêu dùng. Phân tích các thành phần mang tính chu kỳ cũng cho thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa giá dầu và thị trường chứng khoán. Ngoài ra, giá dầu cũng thể hiện một mối tương quan cùng chiều với chỉ số giá tiêu dùng, trong khi thị trường chứng khoán có mối tương quan ngược chiều với chỉ số giá tiêu dùng như trong kết quả mô hình VECM.
Cuối cùng, kết quả của các thành phần mang tính chu kỳ không tìm thấy mối quan hệ giữa chỉ số sản xuất công nghiệp và thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ khóa: Các thành phần mang tính chu kỳ, VAR, Giá dầu, Các chỉ số kinh tế vĩ mô, Thị trường chứng khoán 2 1. GIỚI THIỆU Kể từ khi chính thức đi vào hoạt động vào ngày 28/07/2000 đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã không ngừng phát triển và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển của nền kinh tế. Trong năm 2006, vốn hóa của thị trường chứng khoán chỉ chiếm khoảng 22% GDP thì năm 2007 đã lên tới hơn 40% GDP.
Chỉ số VNIndex đã lập kỷ lục trong lịch sử 14 năm hình thành thị trường chứng khoán, đạt đỉnh 1170.67 điểm vào ngày 12/3/2007. Tuy nhiên, từ cuối năm 2007 đến nay, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều sự biến động mạnh mẽ về tỷ giá, nhiên liệu, thiên tai, dịch bệnh,. đặc biệt là những biến động của thị trường tài chính do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ, đã dẫn đến tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh các tác nhân bên ngoài thì những thông tin tiêu cực về kinh tế vĩ mô cũng đã tác động không nhỏ tới sự suy giảm của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trong thời gian qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã gặp phải rất nhiều khó khăn và thách thức. Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế trong và ngoài nước với thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng được quan tâm, nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách đưa ra các biện pháp phù hợp và hiệu quả, nhằm hỗ trợ cho sự phát triển ổn định của một thị trường chứng khoán còn non trẻ như Việt Nam. Với giả thiết rằng các biến động kinh tế vĩ mô tác động đến giá cổ phiếu thông qua ảnh hưởng của các dòng tiền tương lai và tỷ lệ chiết khấu dòng tiền, mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các biến số kinh tế vĩ mô đã được nghiên cứu rộng rãi. Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá của Ross (1976) đã trở thành động lực chính của nhiều nghiên cứu trước đây và có thể được coi là mô hình định giá tài sản toàn cầu.
Các yếu tố kinh tế vĩ mô được đưa vào các mô hình thường là những biến tiền tệ như lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái,. hoặc những biến kinh tế thực như sản xuất, giá dầu,. Trong vài thập kỷ qua, mối quan hệ giữa lợi nhuận của thị trường chứng khoán và các biến kinh tế vĩ mô đã trở thành một chủ đề rất được quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế thực nghiệm trên toàn thế giới. Những nghiên cứu ban đầu 3 trong lĩnh vực này hỗ trợ cho lập luận rằng lợi nhuận thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng bởi các thông báo kinh tế.