Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích tác động của các yếu tố thuộc nền tảng kinh tế vĩ mô tới cán cân vãng lai của các nước thuộc ASEAN. Chương 5: Kết luận và Khuyến nghị. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày các khái niệm như: Các quốc gia ASEAN, nền tảng kinh tế vĩ mô, cán cân thanh toán. Phương pháp tiếp cận liên thời kỳ cán cân vãng lai cũng như các nghiên cứu trước về cán cân vãng lai.1 Các quốc gia Đông Nam Á Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là 1 liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Tổ chức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines, để biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên. Sau Hội nghị Bali năm 1976, ASEAN xúc tiến chương trình cộng tác kinh tế, nhưng các nỗ lực đều đi đến bế tắc vào giữa thập niên 1980. Phải đợi đến năm 1991 khi Thái Lan đề xuất thành lập khu vực thương mại tự do thì khối mậu dịch ASEAN mới hình thành. Hàng năm, các nước thành viên đều luân phiên tổ chức các cuộc hội họp chính thức để tăng cường hợp tác.
Tính đến năm 2014, ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên (chỉ chừa Đông Timor chưa kết nạp). ASEAN bao gồm diện tích đất 4,46 triệu km², là 3% tổng diện tích đất của Trái Đất, và có số dân khoảng 600 triệu người, 8,8% dân số thế giới. Vùng biển của ASEAN là ba lần lớn hơn so với đất. Trong năm 2010, kết hợp GDP danh nghĩa tại ASEAN đã phát triển thành 1,8 nghìn tỷ USD.
Nếu ASEAN là một thực thể duy nhất, quốc gia đó sẽ xếp hạng trong các nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Nga, Pháp, Canada, Tây Ban 5 Nha, Brazil, Anh, và Ý. Dự kiến đến năm 2030 thực thể này sẽ đứng thứ 4 trên thế giới. Vào ngày 31/12/2015, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đã hình thành Cộng đồng Kinh tế́ ASEAN (ASEAN Economic Community- AEC). Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập vào ngày 8/8/1967 thông qua Tuyên bố ASEAN, hay còn gọi là Tuyên bố Bangkok, được ký bởi ngoại trưởng 5 nước thành viên sáng lập là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan.
ASEAN bao gồm diện tích đất 4,46 triệu km², tương đương khoảng 3% tổng diện tích đất của Trái Đất, vùng biển của ASEAN gấp ba lần lớn hơn so với đất. Tổ ng dân số khoảng 633 triệu người, chiếm khoảng 8,62% dân số thế giới vào năm 2015 và hơn 50% số dân dưới 30 tuổ i, đây là mô ̣t dấ u hiê ̣u tích cực cho nguồ n lao đô ̣ng hiê ̣n ta ̣i và trong tương lai (United Nation, 2015). Tính đế n năm 2014, tổ ng giá tri GDP ̣ danh nghiã của ASEAN đa ̣t 2.57 nghìn tỷ USD, gấ p đôi kể từ năm 2007 khi ASEAN thông qua Kế hoạch Tổng thể xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ACE Blueprint), bên ca ̣nh đó GDP đầ u người tăng 76% đa ̣t 4. Nế u xem xét ASEAN như mô ̣t quố c gia duy nhấ t thì dân số của quố c gia này xế p thứ ba trên thế giới chỉ sau Trung Quố c và Ấn Đô ̣, quy mô kinh tế xế p thứ bảy trên thế giới, sau My,̃ Trung Quố c, Nhâ ̣t, Đức, Anh và Pháp (ASEAN, 2015).
Qua gầ n 50 năm kể từ khi thành lâ ̣p, ASEAN đã phát triể n thành mô ̣t trong những khu vực kinh tế năng đô ̣ng nhấ t thế giới. Ngoài Hiê ̣p đinh ̣ thương ma ̣i ưu đaĩ ASEAN (Agreement on ASEAN Preferential Trading Arrangements) đươ ̣c ký kế t năm 1977 thì hầ u hế t các hiê ̣p đinh ̣ và cam kế t khác đươ ̣c thực hiê ̣n từ đầ u những năm 90 đế n nay. Cô ̣t mố c lich ̣ sử đầ u tiên đă ̣t nề n móng cho khái niê ̣m hô ̣i nhâ ̣p kinh tế ASEAN là Khung hiê ̣p đinh ̣ về tăng cường hơ ̣p tác kinh tế trong ASEAN (Framework Agreement on Enhancing ASEAN Economic Cooperation) đươ ̣c ký ta ̣i Singapore năm 1992. Khung hiê ̣p đinh ̣ này là tiề n đề cho sự ra đời của những cam kế t ưu đaĩ thuế quan đươ ̣c ký kế t trong hiê ̣p đinh ̣ về Khu vực mâ ̣u dich ̣ tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area - AFTA).
Đây là hiê ̣p đinh ̣ quan tro ̣ng đầ u tiên của ASEAN và đã đươ ̣c thay thế bằ ng Hiê ̣p đinh ̣ thương ma ̣i hàng hóa ASEAN (ASEAN Trade in Goods Agreement – ATIGA) vào năm 2010, bên ca ̣nh 6 đó vào năm 1995 thì Khung hiê ̣p đinh ̣ ASEAN về dich ̣ vu ̣ (ASEAN Framework Agreement on Services – AFAS) cũng đã đươ ̣c ký kế t. Căn cứ vào cam kế t về hin ̀ h thành AFTA năm 1992 và ATIGA năm 2010, các quố c gia thành viên đã loa ̣i bỏ thuế nhâ ̣p khẩ u vào năm 2010 trong nhóm nước ASEAN-6 (Brunei Darussalam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) và vào năm 2015 đế n 2018 theo lô ̣ trình linh hoa ̣t cho các nước thành viên mới (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam). Đế n nay tính trung bin ̀ h toàn ASEAN thì 95.99% dòng thuế đã giảm xuố ng mức 0%, trong đó 99.2% ở các nước ASEAN-6 và 90.86% ở các nước thành viên mới. Bên ca ̣nh đó ASEAN cũng thúc đẩ y hơ ̣p tác kinh tế trên liñ h vực đầ u tư thông qua các thỏa thuâ ̣n như Hiê ̣p đinh ̣ đảm bảo đầ u tư ASEAN (ASEAN Investment Guarantee Agreement - ASEAN IGA), Khung hiê ̣p đinh ̣ về đầ u tư khu vực ASEAN (Framework Agreement on ASEAN Investment Area - AIA Framework Agreement) và tiế n tới hoàn thiê ̣n bằ ng Hiê ̣p đinh ̣ đầ u tư toàn diê ̣n (ASEAN Comprehensive Investment Agreement - ACIA) có hiê ̣u lực từ năm 2012.
Ta ̣i Hô ̣i nghi ̣ Thươ ̣ng đin ̉ h ASEAN lầ n thứ 9 vào năm 2003, các nhà lañ h đa ̣o ASEAN đã thố ng nhấ t về viê ̣c hình thành “Cô ̣ng đồ ng kinh tế ASEAN” (ASEAN Economic Community – AEC) như đã đề ra trong chiế n lươ ̣c Tầ m nhin ̀ ASEAN 2020 (ASEAN Vision 2020) đươ ̣c thông qua năm 1997. Cô ̣ng đồ ng kinh tế ASEAN đươ ̣c hình thành dựa trên bố n đinh ̣ hướng chính: (i) Mô ̣t thi trươ ̣ ̀ ng đơn nhấ t, mô ̣t không gian sản xuấ t chung với năm yế u tố đươ ̣c lưu chuyể n tự do giữa mười quố c gia bao gồ m: hàng hóa, dich ̣ vu ̣, đầ u tư, vố n và lao đô ̣ng, (ii) Mô ̣t khu vực kinh tế ca ̣nh tranh cao, (iii) Mô ̣t khu vực phát triể n công bằ ng, và (iv) Mô ̣t khu vực hô ̣i nhâ ̣p nề n kinh tế toàn cầ u. Mu ̣c tiêu là biế n ASEAN thành mô ̣t khu vực ổ n đinh, ̣ thinh ̣ vươ ̣ng và mang tính ca ̣nh tranh với phát triể n kinh tế công bằ ng, giảm đói nghèo và chênh lê ̣ch kinh tế – xã hô ̣i, qua đó tiế n tới thành lâ ̣p Cô ̣ng đồ ng an ninh chính tri ASEAN ̣ (ASEAN Political Security Community) và Cô ̣ng đồ ng văn hóa-xã hô ̣i ASEAN (ASEAN Socio-Cultural Community). Mô ̣t cô ̣t mố c quan tro ̣ng trong quá trình hoàn thiê ̣n “Cô ̣ng đồ ng kinh tế ASEAN” là Kế hoa ̣ch AEC 2015 (AEC Blueprint 2015) đươ ̣c khởi xướng ta ̣i Hô ̣i 7 nghi ̣Bô ̣ trưởng kinh tế ASEAN lầ n thứ 38 và chính thức thông qua vào tháng 11 năm 2017.
Đây là mô ̣t kế hoa ̣ch toàn diê ̣n nhằ m mu ̣c tiêu thiế t lâ ̣p lô ̣ trin ̀ h cho khu vực để tiế n đế n viê ̣c thành lâ ̣p chính thức Cô ̣ng đồ ng kinh tế ASEAN. Đế n ngày 31/12/2015, Cộng Đồng Kinh tế́ ASEAN đã chin ́ h thức đươ ̣c hin ̀ h thành và sẽ sớm có Kế hoa ̣ch AEC 2025 để đinh ̣ hướng cho hô ̣i nhâ ̣p kinh tế trong 10 năm tới. Việt Nam là thành viên tích cực của khu vực ASEAN, một quốc gia đang phát triển thành công. Chương trình cải cách “Đổi mới” về kinh tế và chính trị năm 1986 đã giúp Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, với thu nhập đầu người trung bình dưới 100 USD trong những năm cuố i thâ ̣p niên 90 trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, với thu nhập đầu người trung bình trên 2.
Việt Nam cũng được ghi nhận trong quá trình xóa đói giảm nghèo. Theo số liê ̣u của World Bank thì số người số ng dưới mức 1.9 USD/ngày (2011 PPP) giảm đáng kể từ mức 49.2% năm 1992 xuố ng còn 3. Dựa trên báo cáo hiện tại cùng xuất bản bởi Chính phủ Việt Nam và Liên hiệp quốc vào tháng 9/2015, Việt Nam đã hoàn thành một số mục tiêu thiên niên kỷ như (i) loại bỏ tình trạng siêu đói nghèo, (ii) phổ quát giáo dục tiểu học, (iii) cân bằng giới tính trong giáo dục và đã đạt được một số chỉ tiêu sức khỏe như giảm tỷ lệ tử vong ở người trưởng thành và trẻ em. Việt Nam cũng đặt được mục tiêu về quản lý bệnh sốt rét và bệnh lao, cũng như chiến đấu với tỷ lệ lây lan HIV/AIDS.
Ngoài ra, Việt Nam trên con đường đạt mục tiêu phổ quát về các dịch vụ chăm sóc và phục hồi sức khỏe và nâng cao thể lực người trưởng thành. Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội (SEDS - Socio-Economic Development Strategy) trong giai đoạn 2011 – 2020 tập trung vào tái cấu trúc, môi trường bền vững, công bằng xã hội, và ổn định kinh tế vĩ mô của nền kinh tế mới nổi. Chiến lược đề ra ba lĩnh vực cần được phát triển: (i) phát triển kỹ năng và số lượng nguồn lực nhân sự (tập trung các kỹ năng nhằm phục vụ công nghiệp hiện đại và sáng tạo), (ii) cải thiện thể chế thị trường, và (iii) phát triển cơ sở hạ tầng.