CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU 1.1 Tổng quan về chỉ số giá cổ phiếu 1.1 Khái niệm Theo từ điển Đầu tư và tài chính, chỉ số giá cổ phiếu là chi phí mua 1 cổ phiếu trên thị trường, chỉ số giá này có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau như biến động trên thị trường, điều kiện kinh tế và uy tín của công ty. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, chỉ số giá cổ phiếu là số bình quân về giá của một tập hợp cổ phiếu thành phần giao dịch trên TTCK tại một thời điểm nhất định. Các loại cổ phiếu thành phần này có những đặc điểm chung là giao dịch trên cùng một sở giao dịch, qui mô vốn hóa thị trường ở mức tương đồng nhau. Như vậy, chỉ số giá cổ phiếu là giá trị thống kê để phản ánh những diễn biến của thị trường cổ phiếu.
Các nhà đầu tư và quản lý thị trường có thể thông qua đó để mô tả thị trường và so sánh lợi nhuận trước khi đưa ra các quyết định đầu tư.2 Các phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu Hiện nay có các phương pháp được sử dụng phổ biến trong việc tính chỉ số giá cổ phiếu.1 Phương pháp Passcher Theo phương pháp Passcher thì chỉ số giá cổ phiếu được tính theo phương pháp bình quân gia quyền giá trị với trọng số là số lượng cổ phiếu niêm yết tại thời kỳ tính toán. Công thức tính như sau: (1.1) Trong đó: - : chỉ số giá cổ phiếu bằng phương pháp Passcher. - : số lượng cổ phiếu thứ i được niêm yết tại thời kỳ tính toán. - : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ t.
5 - : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ gốc. - i : loại cổ phiếu thứ i tham gia việc tính chỉ số giá. - t : thời điểm tính chỉ số giá cổ phiếu. Đây là loại chỉ số giá thông dụng nhất hiện nay, một số chỉ số giá cổ phiếu như S&P 500, Chỉ số FTSE 100, Chỉ số Hang Seng, VN–Index áp dụng cách tính của phương pháp này.2 Phương pháp Laspeyres Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy trọng số là số cổ phiếu niêm yết tại thời kỳ gốc.
Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc. Công thức tính toán như sau: (1.2) Trong đó: - : chỉ số giá cổ phiếu bằng phương pháp Passcher. - : số lượng cổ phiếu thứ i được niêm yết tại thời kỳ gốc. - : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ t.
- : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ gốc. -i: loại cổ phiếu thứ i tham gia việc tính chỉ số giá. -t: thời điểm tính chỉ số giá cổ phiếu. Trên thực tế phương pháp này được sử dụng không phổ biến như phương pháp Passcher.3 Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspayres.
Do đó kết quả tính toán của chỉ số giá cổ phiếu phụ thuộc vào trọng số của cả 2 thời kỳ, kỳ gốc và kỳ tính toán. Công thức tính toán như sau: (1.3) Trong đó: 6 - : chỉ số giá Fisher - : chỉ số giá Passche - : chỉ số giá bình quân Laspeyres 1.4 Phương pháp số bình quân đơn giản Là phương pháp lấy tổng trị giá của cổ phiếu chia cho số cổ phiếu tham gia tính toán. Công thức tính như sau: (1.4) Trong đó: - : giá bình quân - : giá của cổ phiếu thứ i - n : số lượng cổ phiếu được đưa vào để tính toán Phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được áp dụng để tính chỉ số giá cổ phiếu. Một số chỉ số áp dụng phương pháp tính này như chỉ số Dow Jones của Mỹ; Nikkei 225 của Nhật.5 Phương pháp bình quân nhân đơn giản Công thức tính: (1.5) Trong đó: - : giá bình quân - : giá của cổ phiếu thứ i - : hằng số Lưu ý là chỉ nên dùng loại chỉ số này khi độ lệch chuẩn khá cao.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến chỉ số giá cổ phiếu 1.1 Lạm phát (Inflation) Lạm phát là thuật ngữ dùng để chỉ mức giá của các hàng hóa và dịch vụ tăng lên theo thời gian so với một thời kỳ được xác định trước đó.
Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, trong đó có 2 nguyên nhân chính là lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy. 7 Lạm phát do cầu kéo: khi hàng hóa trở nên khan hiếm mà nhu cầu về mặt hàng đó lại gia tăng hoặc mức tăng của cung hàng hóa thấp hơn mức tăng của cầu hàng hóa thì sẽ làm cho giá trên thị trường tăng cao và gây ra tình trạng lạm phát. Đây là lạm phát do cầu kéo. Khi lạm phát xảy ra ở mức độ vừa phải sẽ có tác động tích cực cho nền kinh tế vì sẽ làm cho các chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu sẽ giảm đi, điều này sẽ khuyến khích việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên nếu lạm phát xảy ra ở mức cao không như mong đợi sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng cho nền kinh tế. Đối với TTCK, khi lạm phát gia tăng sẽ làm mức lãi suất cũng tăng theo để đảm bảo lãi suất thực dương và kênh TTCK trở nên kém hấp dẫn hơn các kênh đầu tư khác chẳng hạn như gửi tiền tiết kiệm từ đó làm lượng cung lớn hơn lượng cầu cổ phiếu và gây ra tình trạng giảm giá cổ phiếu. Thêm vào đó, khi lạm phát gia tăng sẽ làm tăng chi phí đầu vào của công ty và ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty cũng gián tiếp khiến cổ phiếu bị giảm giá.2 Lãi suất (Interest rate) Lãi suất là chi phí phải trả của người đi vay cho việc sử dụng nguồn vốn của người cho vay. Lãi suất là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển chung của nền kinh tế.
Việc tăng hay giảm lãi suất sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động chung của cả nền kinh tế cũng như TTCK. Khi lãi suất giảm sẽ có tác động tích cực đến chỉ số giá cổ phiếu. Bởi vì khi giá vốn rẻ hơn so với trước sẽ giúp các công ty dễ huy động nguồn vốn để thực hiện các dự án đầu tư, cũng như giảm chi phí cho các công ty sử dụng đòn bẩy tài chính lớn từ đó sẽ làm cải thiện lợi nhuận của công ty và làm tăng giá cổ phiếu của công ty. Ngược lại, khi lãi suất tăng sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động chung của nền kinh tế.
Khi lãi suất tăng lên sẽ làm gia tăng lãi suất cho vay đối với khách hàng, làm giảm nhu cầu cho các hoạt động chi tiêu, mua sắm của người tiêu dùng. Từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận của công ty và các chứng khoán đó trở nên kém hấp dẫn hơn trên thị trường. Thêm vào đó, khi lãi suất tăng lên sẽ thu hút được một lượng tiền nhàn rỗi từ dân chúng đầu tư vào ngân hàng 8 thông qua hình thức gửi tiền tiết kiệm. Điều này sẽ làm nguồn vốn chảy vào các ngân hàng nhiều hơn là các kênh đầu tư khác trong đó có cả cổ phiếu.
Với các lý thuyết kinh tế cho thấy có sự tác động tiêu cực của lãi suất đến chỉ số giá cổ phiếu.3 Cung tiền (Money supply) Cung tiền là lượng tiền được đưa vào nền kinh tế để đáp ứng các nhu cầu như phương tiện thanh toán, nhu cầu cất trữ của các chủ thể trong nền kinh tế. Việc xác định mức cung tiền đóng một vai trò quan trọng nếu xảy ra sự thiết hụt hay dư thừa đều có tác động không tốt đến nền kinh tế. Hiện nay để đo lường mức cung tiền trong nền kinh tế người ta thường dựa vào tính lỏng của tài sản tài chính và được ký hiệu là , , ….Các thước đo lượng cung tiền gồm có: - : bao gồm tiền mặt, là bộ phận tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng. Nó bằng lượng tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành trừ đi lượng tiền giấy do các ngân hàng kể cả ngân hàng trung ương nắm giữ.
- : bao gồm và tiền gửi không kỳ hạn, những khoản tiền gửi này có thể rút ra bất cứ lúc nào theo yêu cầu, có thể tồn tại dưới tài khoản phát séc hoặc không phát séc. Đây là bộ phận tiền được sử dụng cho các giao dịch thường xuyên và là đối tượng kiểm soát trước hết của ngân hàng trung ương các nước. - : bao gồm , tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng. kém linh hoạt hơn nhưng sự kiểm soát là quan trọng vì tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng là lượng tiền giao dịch tiềm năng.
Hơn nữa, giữa chúng và thường xuyên có sự chuyển hoá lẫn nhau. - : bao gồm , các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác ngoài ngân hàng. - L: là thước đo rộng nhất, bao gồm , các chứng khoán có giá như tín phiếu kho bạc, thương phiếu, chấp phiếu ngân hàng… Việc chọn ra một thước đo để xác định mức cung tiền phụ thuộc vào nhiều tiêu chí như phương pháp nào hỗ trợ tốt nhất cho công tác dự báo các biến số trong nền kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay đang sử dụng thước đo mức cung tiền là.
9 Việc phân tích các lý thuyết kinh tế cho thấy có sự tác động của chính sách tiền tệ lên các chỉ số giá cổ phiếu. Khi thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì lượng tiền đưa vào trong lưu thông nhiều hơn sẽ làm giảm lãi suất cho vay cũng như lãi suất tái chiết khấu. Việc làm này sẽ làm gia tăng nhu cầu sử dụng các tài sản tài chính trong đó có cổ phiếu. Mặc khác, khi lãi suất cho vay giảm xuống sẽ giúp làm giảm lãi suất chiết khấu của cổ phiếu qua đó làm tăng giá kỳ vọng cũng nhu thu nhập của các nhà đầu tư.
Khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt thì lãi suất sẽ cao hơn do lượng tiền lưu thông đã giảm xuống so với trước khi có sự thay đổi của chính sách.