Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để nghiên cứu. Chương 4: Kết quả thực nghiệm.
Chương 5: Kết luận. 123doc 7 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN NGHI N C U Trong chương này, tác giả tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và kinh tế ngầm để làm rõ các cơ chế tác động. Tiếp theo, tác giả tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm về các nghiên cứu trước đã nghiên cứu mối quan hệ này. Tuy nhiên mối quan hệ này tương đối mới trong nghiên cứu thực nghiệm do đo lường phát triển tài chính và đặc biệt kinh tế ngầm mới đây mới được chú trọng và có phương pháp ước tính.
Ở khía cạnh bài nghiên cứu, tác giả cố gắng tổng hợp đầy đủ các nghiên cứu thảo luận trực tiếp về mối quan hệ phát triển tài chính làm giảm kinh tế ngầm và sự tăng lên tỷ lệ kinh tế ngầm cản trở sự phát triển tài chính.1 Các bằng chứng thực nghiệm về phát triển tài chính và kinh tế ngầm 2.1 Phát triển tài chính Phát triển tài chính là một nhập lượng quan trọng cho mục tiêu chung phát triển của mỗi quốc gia. Định nghĩa phát triển kinh tế như là một quá trình tổng hợp mà bao gồm những cải thiện trong tất cả mọi lĩnh vực của xã hội và phúc lợi của toàn bộ dân số được duy trì để giảm thiểu sự nghèo đói cùng cực và sự tước đoạt kinh tế đối vớ mộti bộ phận nào đó trong xã hội. Khái niệm tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng kinh tế, bao gồm cả sự đóng góp của việc tìch lũy vốn trong sản lượng này. Tăng trưởng vẫn là một điều kiện cần nhưng chưa đủ của phát triển kinh tế.
Trong số các nhập lượng thì quan trọng nhất cho phát triển kinh tế là các nguồn lực tài chính và khả năng tiếp cận đến những nguồn lực này trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế. Việc cung cấp vốn cho các mục tiêu phát triển khác nhau không chắc là khả thi, nếu sự phân bổ nguồn lực hoàn toàn để cho thị trường tài chính tự thực hiện. 123doc 8 Chính phủ cần can thiệp trong thiết kế chính sách và phát triển tài chính thì mới đạt mục tiêu phát triển nền kinh tế. Vai trò của các thể chế tài chính và chính sách của chúng trong việc quản trị phát triển kinh tế được đề cập trong Stiglitz (2000, trang 1085), cho thấy việc thiết kế chính sách và thể chế tài chính đóng vai trò quan trọng tới khía cạnh tăng trưởng kinh tế.
Thị trường tài chình là khu vực trung gian trong nền kinh tế, góp phần vào quá trính tìch lũy vốn và đổi mới công nghệ, có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết nhấn mạnh rằng sự phát triển hệ thống tài chình là một yếu tố quan trọng trong nền kinh tế trong dài hạn, hệ thống tài chình phát triển và tiến bộ có thể tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh. Theo Drake, 1980; Fritz, 1984; Garcia & Liu, 1999; Levine, 2005 những kênh này bao gồm: (i) Cung cấp thông tin về các khoản đầu tư khả thi, để điều hòa vốn có hiệu quả; (ii) Giám sát các doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp nhà nước; (iii) Đa dạng hóa rủi ro; (iv) Huy động và tổng hợp tiết kiệm; (v) Thuận tiện hóa sự trao đổi hàng hoá dịch vụ; và chuyển giao công nghệ. Ngành tài chình phục vụ nhiều chức năng quan trọng của nền kinh tế, khi các quốc gia có mức độ phát triển tài chình thấp, sẽ đối diện với các vấn đề về thiếu vốn vay, thiếu tình cạnh tranh, với bất công về tài chình ở mức độ cao và khả năng hạn chế thu thập thông tin để cho vay của người cho vay, Bose và cộng sự.
123doc 9 Love và Zicchino (2006) khi nghiên cứu về phát triển tài chính cho rằng kinh nghiệm của các doanh nghiệp về các giới hạn tài chính là chỉ tiêu phân biệt mức độ phát triển tài chính quốc gia có mức phát triển tài chính thấp so với các quốc gia có mức độ phát triển tài chính cao. Các quốc gia có phát triển tài chình cao là nơi có các doanh nghiệp có kinh nghiệm cao hơn về các giới hạn tài chính của doanh nghiệp cũng như các sản phẩm thị trường tài chính.2 Kinh tế ngầm Trong nghiên cứu của Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1997) về “Khu vực kinh tế phi chính quy: một số kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế”, tổng hợp định nghĩa kinh tế ngầm từ các quan niệm của các quốc gia như Cộng hòa Liên Bang Đức, Liên minh châu âu EU, của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và của ngân hàng thế giới. Tất cả khái niệm chung quy là phản ánh các hoạt động kinh tế ở một khu vực trái với khu vực kinh tế chính thống và khu vực này rất quan trọng trong kinh tế quốc dân. Là các hoạt động kinh tế trốn thoát khỏi mạng lưới thống kê và không định lượng được (Liên minh châu Âu EU), hoạt động mà sản xuất hàng hóa dịch vụ hợp pháp mà không khai báo hoặc sản xuất hàng hóa dịch vụ bất hợp pháp và thu nhập vô hình (OECD).
Có nhiều nghiên cứu về sự tồn tại của kinh tế ngầm như Carter, Kaufmann D, Kaliberda và nhiều tác giả khác. Có thể chia các nghiên cứu này thành hai nhóm lớn: các nghiên cứu về kinh tế ngầm tại các nước phát triển và các nghiên cứu tại các nước đang và kém phát triển. Điểm khác biệt cơ bản trong cách tiếp cận của hai nhóm này xuất phát từ bản chất khác nhau của các hoạt động ngầm. Với các nước phát triển, khu vực kinh tế ngầm được xem như là một phần còn bỏ sót, cần tính thêm của nền kinh tế quốc dân.
Còn đối với các nước đang và chưa phát triển, khu vực này được xem như là một bộ phân không thể thiếu, không thể tách rời của nền kinh tế quốc dân. Đây cũng là 123doc 10 lý do tác giả lựa chọn các quốc gia đang phát triển để phân tích nhằm tránh các sai lầm về bản chất của kinh tế ngầm trong các mức phát triển quốc gia khác nhau. Ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế ngầm đối với nền kinh tế đó là: không tình thuế ảnh hưởng đến nguồn thu chính phủ, không tính vào GDP ảnh hưởng đến số liệu thống kê, ngoài ra đây là nơi diễn ra các hoạt động bất hợp pháp ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa, xã hội quốc gia do nhà nước không kiểm soát được. Kinh tế ngầm không cung cấp thông tin đầy đủ và chình xác để hoạch định các chình sách vĩ mô hợp lý, hiệu lực của các chính sách, hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực luật pháp cũng hết sức hạn chế, thậm chí bị chệch hướng, vô hiệu hóa.
Kinh tế ngầm cũng làm cho doanh nghiệp và các sản phẩm của chúng giảm năng lực cạnh tranh ở cả tầm quốc gia, khó có thể hội nhập được với các hoạt động thương mại quốc tế để tận dụng hết được các cơ hội có được nhờ hội nhập, và dễ bị ra khỏi vòng vận động của kinh tế quốc tế, trở thành ngoại vi của hợp tác phát triển. Một nền kinh tế như vậy có nguy cơ đẩy một quốc gia càng tụt hậu về kinh tế so với các quốc gia khác, kể cả trong khu vực. Kinh tế ngầm còn tạo ra môi trường kinh doanh không bính đẳng, không đáng tin cậy, bất lợi cho người kinh doanh trung thực, bất lợi cho khu vực chính quy. Tạo nên những yếu tố bất ổn, không lường được rủi ro khi quyết định đầu tư.
Kinh tế ngầm còn không khuyến khích và thúc đẩy tính sáng tạo, không khuyến khìch đầu tư dài hạn, quy mô lớn hoặc đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Kinh tế ngầm còn hạn chế cơ hội và quy mô kinh doanh do mối quan hệ góp vốn chủ yếu dựa trên quan hệ gia đính, họ hàng thân quen, không phát huy được ưu thế quy mô. Tạo ra dư địa lớn cho công chức nhà nước sách nhiễu, đòi hối lộ và lạm dụng quyền lực phục vụ ý đồ lợi ìch các nhân. Người làm việc ở khu vực kinh tế ngầm không được bảo hiểm an sinh xã hội đầy đủ khác.
Tuy nhiên có đến hàng triệu người trên thế giới sống nhờ vào những công việc lặt vặt mà các nhà Kinh tế học vẫn thường xếp vào dạng Kinh tế ngầm, hay còn gọi là phi chính thức. Tại nhiều nước đang phát triển, khu vực ngầm nay đang phát triển mạnh. Tại Chợ Giời ở Hà Nội hay ở chỗ 123doc 11 nào đó, chỉ cần bày ra vài sản phẩm hoặc dịch vụ sửa chữa nào đó là có thể kiếm sống qua ngày. Hinh ảnh này rất phổ biến ở nhiều địa phương của Việt Nam.
Nếu tính theo tiêu chuẩn chung, những người buôn bán lặt vặt này có thu nhập rất bè nhưng nếu không có nó, họ sẽ chẳng có cái gì cả. Khu vực Kinh tế ngầm sẽ thu nhận nhiều người và giúp họ có nguồn thu nhập. Kinh tế ngầm cho phép một Quốc gia tồn tại trong giai đoạn kinh tế suy thoái. Diện mạo kinh tế ngầm: Những hộ kinh doanh nhỏ, thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật.
Các hộ kinh doanh cá thể không đăng ký kinh doanh. Ở Việt Nam, số này chiếm khá lớn, có ước tình đến hơn một nửa số hộ kinh doanh cá thể hiện nay không đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật. Taxi "dú", xe khách "dú", xe "ôm" là trường hợp điển hình của loại này. Có đăng ký kinh doanh, nhưng hoạt động kinh doanh không đúng theo qui định của pháp luật.
Loại này cũng có nhiều dạng như: - Kinh doanh các ngành, nghề ngoài ngành, nghề đăng ký kinh doanh; - Không ghi chép và báo cáo tất cả các hoạt động kinh doanh, giấu doanh thu, lợi tức; - Có thuê lao động nhưng không hợp đồng lao động, không đăng ký lao động; - Kinh doanh các ngành, nghề phải có giấy phép mà không xin phép; - V. Kinh doanh các nganh, nghề tư nhân không được quyền kinh doanh. Nguyên nhân của kinh tế ngầm: Tâm lý xã hội nhìn chung vẫn chưa thiện cảm với người giàu.