Chương 1 – Giới thiệu: cung cấp thông tin ngắn gọn về vấn đề cần nghiên cứu, trình bày mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 – Tổng quan lý thuyết: trình bày cơ sở lý thuyết về chính sách hỗ trợ tài chính, phương pháp đánh giá tác động của chính sách, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan để từ đó xây dựng giả thuyết nghiên cứu. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: trình bày về khung đo lường tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất và đánh giá tác động chính sách, phương pháp đánh giá bằng PSM và DID, DID kết hợp PSM và dữ liệu sử dụng cho đề tài này. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả và bàn luận về các phát hiện liên quan đến kết quả chính.
Chương 5 – Kết luận và hàm ý chính sách: trình bày những kết luận, các hàm ý chính sách liên quan đến nghiên cứu, những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. Phần cuối cùng là các phụ lục đính kèm. 123doc 5 CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 – Lược khảo lý thuyết DNNVV tại Việt Nam Khái niệm DNNVV: DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định: 1. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Vai trò của DNNVV: Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung có một số vai trò tương đồng như sau: - Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các DNNVV thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể. - Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn.
Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. - Làm cho nền kinh tế năng động: vì DNNVV có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động. - Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
- Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa 123doc 7 phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. - Đóng góp giá trị GDP cho quốc gia. Chính sách trợ giúp phát triển DNNVV Từ cuối năm 2007 cho đến nay, nền kinh tế nước ta chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới vẫn tăng: tính hết năm 2009, gần 85.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng gần 30% so với năm 2008. Sự phát triển tích cực của khu vực DNNVV trong những năm qua đã góp phần cơ bản tạo việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị, an sinh xã hội.
Tuy nhiên, các DNNVV vẫn còn có những khó khăn, hạn chế mang tính đặc trưng và lâu dài ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và phát triển như: quy mô doanh nghiệp nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng quản trị doanh nghiệp yếu, việc tiếp cận nguồn tín dụng và mặt bằng sản xuất khó, mối liên kết với các doanh nghiệp lớn còn thấp. Nhằm tiếp tục khuyến khích, trợ giúp phát triển DNNVV đáp ứng các yêu cầu mới về hội nhập và phát triển, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV. Theo nội dung của Nghị định này, Nhà nước có chính sách trợ giúp DNNVV trong các lĩnh vực tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tạo điều kiện cho DNNVV tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công; thông tin và tư vấn; trợ giúp phát triển nguồn nhân lực; vườn ươm doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ tài chính Chính sách hỗ trợ tài chính là một công cụ rất quan trọng, mang tính sống còn của Nhà nước trong việc điều hành và phát triển kinh tế xã hội.
Trong đó, đặc 123doc 8 biệt là chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách về thị trường chứng khoán, … có tác động đến việc tồn tại và phát triển DNNVV. Dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật tài chính, sự hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước đối với các DNNVV được thực hiện thông qua chính sách tài chính vĩ mô (ngân sách Nhà nước, tín dụng Nhà nước) và qua các thị trường tài chính (thị trường tín dụng ngân hàng, thị trường vốn), ngoài ra còn có một số chính sách khác. Sự hỗ trợ này góp phần giúp cho các DNNVV giải quyết những khó khăn trong quá trình hoạt động, nâng cao hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh và đứng vững trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới. Các chính sách nói trên của Nhà nước chủ yếu là hướng vào việc phát triển bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong xu thế hội nhập, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO.2 – Nguyên lý đánh giá tác động của Chính sách công 2.1 – Đánh giá tác động của chính sách Đánh giá tác động của một chính sách là tìm hiểu xem những thay đổi trong phúc lợi có thực sự là kết quả của can thiệp chính sách hay không, bằng cách thực hiện so sánh kết quả của những đối tượng tham gia dưới tác động của chính sách với kết quả của chính những đối tượng tham gia này nếu không có chính sách.
Khó khăn chính trong đánh giá tác động là xác định xem điều gì sẽ xảy ra đối với đối tượng thụ hưởng nếu không có chương trình. Nhưng ta không thể làm được điều này vì tại một thời điểm nào đó, một đối tượng sẽ không thể tồn tại vừa ở nhóm can thiệp và đối chứng cùng lúc. Hiệu quả của chính sách không thể tính cho một đối tượng, mà thay vào đó cần phải xây dựng tình huống phản thực để tính toán hiệu quả chính sách trung bình của các đối tượng trong một mẫu khảo sát chọn từ tổng thể. Kết quả của tình huống này gọi là tình huống phản thực (counterfactual) trình bày ở Hình 2.
123doc 9 Kết quả Y2 Nhóm tham gia Đã nhận can thiệp Tác động Y1 Nhóm không tham gia Y0 không nhận can thiệp Trước Sau Thời gian can thiệp can thiệp Hình 2.1: Mô hình phương pháp đánh giá tác động Nguồn: dựa theo ý tưởng của Khandker và cộng sự (2010) Tổng quát hóa, tác động trung bình của chính sách sẽ được tính bởi biểu thức: D = E(Yi | T=1) - E(Yi | T=0) (2.1) Tác động trung bình của Kết quả của đối tượng Kết quả của đối tượng chính sách - ATE tham gia không tham gia Trong đó: + T: biến chính sách, 0 = không tham gia, 1 = có tham gia. + Yi: biến kết quả chẳng hạn tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng năng suất. + Yi | T = 1: biến kết quả của đối tượng thứ i với điều kiện đối tượng i có tham gia. + Yi | T = 0: biến kết quả của đối tượng thứ i khi đối tượng i không tham gia.
Do tình huống phản thực không quan sát được nên không thể ước lượng D một cách chính xác tuyệt đối.