CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Lao Vốn (tỷ) Vốn (tỷ) Lao Lao động Khu vực động Lao động Lao động động (người) (người) (người) (người) (người) Khu vực nông, lâm <= 10 <= 100 <= 20 <= 200 <= 100 nghiệp và thủy sản Khu vực công <= 1 <= 100 <= 20 <= 200 <= 100 nghiệp và xây dựng Khu vực thương <= 10 <= 50 <= 50 <= 100 <= 300 mại, dịch vụ (Nguồn: Điều 6 nghị định số 39/2018/NĐ-CP) Thông qua các định nghĩa khác nhau về DNNVV đã nêu trên khái niệm DNNVV có thể được hiểu như sau: DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, được chi thành ba cấp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, quy mô vốn, doanh thu hàng năm và số lượng lao động trung bình bị giới hạn. Khái niệm tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị ban đầu. (Giáo trình Tín dụng ngân hàng- Học viện Ngân hàng, 2017) Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ 6 cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chình, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
(Theo luật tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, 2010) Cho vay đối với DNNVV tại NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Tô Ngọc Hưng- Ngân hàng thương mại, 2009) Từ khái niệm tín dụng và cấp tín dụng đã nêu trên có thể hiểu khái niệm về tín dụng đối với DNNVV như sau: Tín dụng đối với khách hàng DNNVV là hình thức cấp tín dụng mà trong đó ngân hàng giao cho khách hàng là DNNVV một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh. Chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan (Tiêu chuẩn hóa ISO trong dự thảo DIS 9000:2000, Tổ chức Quốc tế, 2001). Dựa vào định nghĩa chung về chất lượng, chất lượng tín dụng được hiểu theo đúng nghĩa là ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng, đồng thời khách hàng vay vốn phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Đối với khách hàng vay vốn chất lượng tín dụng thể hiện vốn vay được sử dụng có hiệu quả, trang trải được các chi phí hoạt động và đem lại lợi nhuận cho khách hàng (Nguyễn Thế Hùng, 2017). Trong khi đó có một định nghĩa chất lượng tín dụng khác như sau: Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Như vậy khi xem xét chất lượng hoạt động tín dụng của các NHTM thì ta phải tính tới 3 yếu tố NHTM, khách hàng và nền kinh tế (Đỗ Minh Hằng, 2017). Dựa vào các định nghĩa về chất lượng nói chung và chất lượng tín dụng của các nghiên cứu đã nêu trên, chất lượng tín dụng DNNVV có thể được hiểu như sau: Chất 7 lượng tín dụng DNNVV là sự đáp ứng tốt nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.
- Theo ngân hàng: Cũng như bất kể doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, theo quan điểm từ phía ngân hàng thì chất lượng tín dụng DNNVV là mức độ an toàn của khoản tín dụng cấp cho DNNVV và khả năng sinh lời mà hoạt động tín dụng đối với DNNVV mang lại cho ngân hàng. - Theo DNNVV: khi đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, các DNNVV thường quan tâm tới các yếu tố như các sản phẩm tín dụng, lãi suất, thời hạn vay, quy mô vốn vay, quy trình vay vốn, thời gian thẩm định nhanh hay chậm,… có đáp ứng được nhu cầu của khách hàng DNNVV hay không. Nếu tất cả các yếu tố này đều được đáp ứng thì chất lượng tín dụng được đánh giá là tốt và ngược lại.
Do đó, theo quan điểm của DNNVV thì chất lượng tín dụng DNNVV là sự thỏa mãn nhu cầu của DNNVV về khoản tín dụng trên các phương diện lãi suất, quy mô vốn, thời hạn vay,… - Kinh tế xã hội: chất lượng tín dụng DNNVV là sự đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội mà khoản tín dụng cho DNNVV của ngân hàng mang lại. Chất lượng tín dụng DNNVV đáp ứng nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình và tăng trưởng tín dụng, hòa nhập với cộng đồng kinh tế. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 1. Chỉ tiêu định tính Khóa luận sử dụng các thành phần thang đo SERVQUAL của Parasuaman và cộng sự (1985) thang đo SERVQUAL làm chỉ tiêu định tính.
Đây là thang đo được sử dụng phổ biến để đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng sử dụng bất kỳ dịch vụ nào. Vì vậy nó cũng có thể sử dụng để đánh giá mức độ hài lòng đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng, tuy nhiên khóa luận chỉ sử dụng một số tiêu chí sau của thang đo: 8 + Các yếu tố hữu hình: thể hiện qua các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động vay của khách hàng. + Sự đáp ứng: nhân viên ngân hàng tư vấn và trả lời thắc mắc của khách hàng. + Sự đảm bảo: CBCNV ngân hàng, lịch sự, đạo đức nghề nghiệp tốt.
Ngoài ra, khóa luận tốt nghiệp đưa thêm một số yếu tố khác để phù hợp với thực tế kinh doanh tại Agribank Hà Tây như: chất lượng sản phẩm tín dụng, mức độ quan tâm từ phía ngân hàng về vấn đề trước khi cho vay, mức độ tiếp tục đồng hành và giới thiệu khách hàng mới của DNNVV. Bảng hỏi (Phụ lục 1) đánh giá chất lượng tín dụng thông qua góc nhìn từ khách hàng là DNNVV tại Agribank Hà Tây theo các tiêu chí của thang đo SERVQUAL và một số tiêu chí khác, sử dụng thống kê mô tả thông qua SPSS để xử lý số liệu thu thập được qua bảng hỏi. Chỉ tiêu định lượng Khóa luận tốt nghiệp sử dụng 5 chỉ tiêu định lượng: nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng, nhóm chỉ tiêu nợ có đảm bảo, nhóm chỉ tiêu về nợ xấu, nhóm chỉ tiêu về vòng quay vốn tín dụng và chỉ tiêu về lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Cụ thể như sau: a.
Nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng Dư nợ cuối kỳ − Dư nợ đầu kỳ Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng = Dư nợ đầu kỳ Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng đối với đối tượng khách hàng DNNVV cũng như uy tín của ngân hàng đối với đối tượng khách hàng này. Các chỉ tiêu trên càng cao càng thể hiện được khả năng của ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động tín dụng cho DNNVV. Đồng thời tỷ lệ tăng trưởng tín dụng càng cao thì chất lượng tín dụng ngày càng cải thiện hơn để phù hợp với sự tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, chỉ tiêu này không phản ánh hết chất lượng tín dụng mà nó chỉ có thể phản ánh được quy mô tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng tín dụng vì đằng sau các khoản tín dụng 9 đó còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Vì vậy, cần phải sử dụng một số nhóm chỉ tiêu khác nhằm có sự đánh giá toàn diện hơn. Nhóm chỉ tiêu về nợ có đảm bảo: Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm giữa nợ có tài sản đảm bảo trên tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm nhất định. Nợ có TSĐB Tỷ lệ nợ có TSĐB = Tổng dư nợ Việc cho vay có TSĐB có thể giúp ngân hàng giảm thiểu được thiệt hại khi rủi ro tín dụng xảy ra. Trong thực tế các khoản vay cần có tài sản đảm bảo thì thông thường giá trị của khoản vay đó không được vượt quá 70% giá trị tài sản đảm bảo (còn tùy vào từng loại TSĐB cụ thể).
TSĐB làm tăng trách nhiệm của khách hàng đi vay với khoản tín dụng được cấp và tạo ra mối ràng buộc về lợi ích giữa khách hàng và ngân hàng. Vì vậy một tỷ lệ cao hay thấp của chỉ tiêu dư nợ có TSĐB trên tổng dư nợ cũng phản ánh được chất lượng tín dụng của ngân hàng xét về chỉ tiêu dư nợ có đảm bảo là cao hay thấp. Tuy nhiên chỉ tiêu này mới chỉ phản ánh khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi có rủi ro xảy ra. Để đánh giá chất lượng tín dụng còn phải xét số vốn thực tế chưa thu hồi được khi hết hạn hợp đồng tín dụng.
Nhóm chỉ tiêu về nợ xấu Bao gồm các tiêu chí sau: - Tỷ lệ nợ quá hạn: được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn trên tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm xác định. Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100 Tổng dư nợ tín dụng Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thỏa thuận trên hợp đồng. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng mất vốn của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì khả năng mất vốn càng cao, chất lượng tín dụng thấp.