Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nghiên cứu bò sát ở Việt Nam 1. Đa dạng loài bò sát ở Việt Nam Việt Nam cũng được đánh giá là một trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới (Myers và cs, 2000) [36] trong đó có khu hệ bò sát. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc ghi nhận 258 loài bò sát, số lượng loài tăng lên 368 loài vào năm 2009 (Nguyễn và cs, 2009) [49] và lên tới 420 loài vào năm 2013.
Chỉ tính riêng trong 5 năm trở lại đây có tới hơn 50 loài mới được công bố hoặc ghi nhận tại Việt Nam (tính đến tháng 3-2018 theo Uetz & Hošek, 2018 [60] (Hình 1. Số lượng loài tăng lên nhanh chóng và những phát hiện mới chứng tỏ khu hệ bò sát của Việt Nam rất đa dạng và cần tiếp tục những nghiên cứu chi tiết hơn.1 Số lượng các loài bò sát được ghi nhận ở Việt Nam qua các năm 1. Các nghiên cứu về bò sát ở vùng Đông Bắc Trong khoảng gần 20 năm trở lại đây, có rất nhiều công trình công bố về Bò sát ở khu vực Đông Bắc Việt Nam nhưng hầu hết các nghiên cứu tập trung điều tra về thành phần loài hoặc đa dạng khu hệ. 4 download by : skknchat@gmail.com Thành phần loài tại các khu hệ, Orlov và cs (2000) [52] ghi nhận hơn 80 loài rắn ở Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Năm 2007, Trương Văn Lã và cs [8] đã thống kê được 25 loài Bò sát tại khu vực Tam Đảo - Chợ Đồn - Bắc Kạn. Năm 2008, Trần Thanh Tùng thống kê 89 loài bò sát ở khu vực Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang [12]. Các nghiên cứu về bò sát ở Bắc Kạn theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009) [10] ghi nhận 39 loài rắn và 18 loài thằn lằn ở Ba Bể, Chợ mới, Chợ Đồn, Ngân Sơn, Linh Thông, Xuân Lạc. Hoàng Văn Ngọc (2010) [9] đã ghi nhận 101 loài bò sát ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang.
Nguyen và cs (2011) [45] khảo sát và ghi nhận 40 loài bò sát tại VQG Cát Bà. Vũ Tiến Thịnh (2013) [11] xác định được 11 loài bò sát quý hiếm ở khu bảo tồn loài loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (Bắc Kạn). Hecth và cs (2014) [24] thống kê ở vùng núi Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) có 40 loài Bò sát. Gawor và cs (2016) [19] đã ghi nhận 51 loài bò sát tại VQG Bái Tử Long.
Về mô tả loài mới và ghi nhận mới cho Việt Nam: Le & Ziegler (2003) [31] lần đầu tiên ghi nhận loài Shinisaurus crocodilurus ở Việt Nam. Darevsky và cs (2004) [17] mô tả loài mới Sphenomorphus devorator ở Quảng Ninh. Böhme và cs (2005) [14] mô tả mới loài Tylototriton vietnamensis ở Bắc Giang. Vu và cs (2006) [61] ghi nhận bổ sung loài Goniurosaurus luii cho khu hệ bò sát của Việt Nam.
Ziegler và cs (2008) [69] mô tả mới Goniurosaurus catbaensis ở đảo Cát Bà. Ziegler và cs (2008) [69] phát hiện loài mới Opisthotropis tamdaoensis ở Tam Đảo. Năm 2009, Orlov và cs [53] mô tả loài rắn mới Protobothrops trungkhanhensis với mẫu chuẩn thu tại tỉnh Cao Bằng. Nguyen và cs (2010) [47] mô tả loài mới Scincella apraefrontalis tại tỉnh Lạng Sơn.
Roesler và cs (2010) [58] mô tả loài Gekko canhi thu tại tỉnh Lạng Sơn. David và cs (2012) [18] mô tả mới loài Oligodon nagao tại tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng. Nguyen và cs (2012) [48] ghi nhận bổ sung loài Sphenomorphus incognitus cho khu hệ bò sát của Việt Nam với mẫu vật thu tại tỉnh Bắc Giang. Orlov và cs (2013) [54] mô tả loài mới Azemiops kharini với mẫu vật thu tại các tỉnh Cao 5 download by : skknchat@gmail.com Bằng, Lạng Sơn và Vĩnh Phúc.
Nguyen và cs (2013) [43] đã công bố và mô tả loài mới Hemiphyllodactylus zugi ở Hạ Lang, Cao Bằng. Loài rắn đặc hữu Opisthotropis voquyi gần đây được phát hiện duy nhất phân bố tại vùng núi Tây Yên Tử, Bắc Giang và được mô tả bởi nhóm nghiên cứu của Ziegler và cs (2018) [67]. Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, thành phần thức ăn của các loài bò sát Số lượng các nghiên cứu về sinh thái học của các loài bò sát ở Việt Nam còn khá hạn chế, một số nghiên cứu về thành phần thức ăn trong tự nhiên được ghi nhận như: Nghiên cứu dinh dưỡng của Rắn ráo trâu Ptyas mucosa trong điều kiện nuôi tại Nghệ An thực hiện bởi Ông Vĩnh An và cs (2012) [1]; Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và sinh dục của Rắn nước Xenochrophis flavipunctatus của Ngô Đắc Chứng và Lê Anh Tuấn (2012); Ngo và cs (2014) [5], [40] nghiên cứu thành phần thức ăn của loài Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) [40]; Nghiên cứu về sinh thái săn mồi và dinh dưỡng của loài Thằn lằn bóng Eutropis multifasciatus được nghiên cứu bởi Ngo và cs (2015); Ngo và cs (2016) [40], [41] phân tích và ghi nhận một số mẫu thành phần thức ăn của loài Thạch sùng mí cát bà (Goniurosaurus catbaensis) tại VQG Cát Bà. Như vậy, có thể nói hướng nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng và thành phần thức ăn của các loài bò sát còn khá hạn chế ở Việt Nam.
Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với công tác bảo nhân nuôi các loài bò sát quý hiếm và có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1.1 Vườn quốc gia Bái Tử Long 1.1 Vị trí địa lý Vườn quốc gia Bái Tử Long được thành lập ngày 01/06/2001 theo quyết định số 85/2001/QĐ-TT, nằm trong tọa độ địa lý: 20°55’05’’ - 21°15’10’’ vĩ độ Bắc, 107°30’10’’ - 107°46’20’’ kinh độ Đông, nằm trong địa giới hành chính 6 download by : skknchat@gmail.com của 3 xã: Minh Châu, Vạn Yên và Hạ Long của huyện Vân Đồn, với tổng diện tích 15. VQG Bái Tử Long thuộc Vịnh Bái Tử Long, nằm trong vịnh Bắc Bộ, phía Tây nam giáp Vịnh Hạ Long, phía Đông gáp biển, phía Tây giáp đất liền với thành phố Cẩm Phả và phía Đông bắc giáp huyện đảo Cô Tô. Vịnh Bái Tử Long bao gồm hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ và trong đó có nhiều đảo lớn và có dân sinh sống.
Các đảo thuộc vườn quốc gia bao gồm: Ba Mùn, Trà Ngọ Lớn, Trà Ngọ Nhỏ, Sậu Nam, Sậu Động, Đông Ma, Hòn Chính, Lò Hố, Máng Hà Nam, Máng Hà Bắc, Di To, Chầy Cháy, Đá Ẩy, Soi Nhụ,… (Lê văn Lanh, 2011) [7].2 Ảnh chụp Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp VQG Bái Tử Long - tỉnh Quảng Ninh (Nguồn: VQG Bái Tử Long) 7 download by : skknchat@gmail.2 Khí hậu VQG Bái Tử Long chịu ảnh hưởng chung của vùng nhiệt đới gió mùa cận chí tuyến Bắc có mùa đông lạnh từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau và mùa hè nắng nóng từ tháng 5 tới tháng 8, tháng 4 và tháng 9 là thời kỳ chuyển tiếp với khí hậu ôn hoà. Nhiệt độ không khí theo số liệu quan trắc của 4 trạm Khí tượng khu vực xung quanh (trạm Móng Cái, Tiên Yên, Cô Tô, Cửa Ông) trong thời gian 1956 - 2003 cho thấy nhiệt độ trung bình năm trong khoảng 22,4 - 22,8°C, trong khoảng thời gian nóng nhất vào các tháng 6 - 8 và đặc biệt vào tháng 7. Lượng mưa trung bình năm của khu vực VQG Bái Tử Long trong khoảng 1693,8 - 2679,6mm. Độ ẩm tương đối của không khí khu vực trung bình khoảng 83 - 85% [7].3 Đa dạng sinh học - Hệ sinh thái Vịnh Bái Tử Long: Vịnh Bái Tử Long bao gồm VQG Bái Tử Long do có cấu tạo địa hình, địa chất đa dạng nên HST rất đa dạng: HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên đảo đá vôi, HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên đảo đất, HST rừng ngập mặn, vùng triều, hồ nước mặn (tùng, áng), HST thảm cỏ biển, HST rạn san hô, đáy mềm (động thực vật phù du, thảm rong, cỏ biển, …), HST thung áng trong đảo đá vôi và hệ thống các hang động.
- Hệ động, thực vật VQG Bái Tử Long: VQG Bái Tử Long có hệ thực vật khá phong phú và đa dạng. Hệ thực vật rừng ở đây bao gồm 780 loài, 468 chi, 135 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó ngành Mộc lan chiếm đa số với 729 loài, 438 chi, 114 họ. Nguồn tài nguyên cây có ích: 431 loài cây thuốc, 126 loài cây cho gỗ, 44 loài cây cho quả và hạt ăn được, 33 loài cây làm rau ăn, 27 loài cây cho tinh dầu và dầu béo, 14 loài cây làm thức ăn cho gia súc.
Qua khảo sát đã phát hiện được 19 loài thực vật ngập mặn thuộc hai nhóm: nhóm loài chủ yếu có 8 loài và nhóm loài chịu 8 download by : skknchat@gmail.com mặn gia nhập vào rừng ngập mặn có 8 loài. Trong thành phần của khu hệ loài Sú chiếm ưu thế trong toàn khu vực. Thành phần loài động vật hoang dã trên đảo trong phạm vi VQG Bái Tử Long có: ⁻ Lớp thú có 24 loài thuộc 13 họ, 6 bộ. ⁻ Lớp chim có 71 loài thuộc 28 họ, 9 bộ.
⁻ Lớp lưỡng cư có 15 loài thuộc 1 họ, 1 bộ. ⁻ Lớp bò sát có 33 loài thuộc 12 họ, 2 bộ. ⁻ Côn trùng bộ Cánh phấn có 120 loài, thuộc 8 họ. Một số loài động vật rừng thuộc sách đỏ Việt Nam có: Bồ câu nâu, Báo gấm, Báo lửa, Sơn dương, Rái cá, Rùa hộp ba vạch, Tắc kè, Kỳ đà hoa, Trăn đất, Rắn ráo, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang, Rắn hổ mang chúa… [7].
- Đa dạng các loài bò sát, ếch nhái tại VQG Bái Tử Long: Nghiên cứu của Le và Vo. (2005) [30] khảo sát đánh giá đa dạng các loài động vật có xương tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 08 loài ếch nhái thuộc 06 họ và 19 loài bò sát thuộc 11 họ. Nguyen và cs. (2009) [49] ghi nhận 40 loài bò sát tại VQG Bái Tử Long.
Gần đây, Gawor và cs. (2016) [19] đã bổ sung và ghi nhận một số loài bò sát và ếch nhái, tăng số lượng các loài ếch nhái thành 14 loài và số lượng các loài bò sát tăng lên tới 51 loài. Đa dạng các loài bò sát ếch nhái tại VQG Bái Tử Long ghi nhận 04 loài trong Danh lục Đỏ IUCN 2018 [27], 08 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2007) , 05 loài có tên trong Nghị định 32/NĐ-CP (2006), 05 loài có tên trong Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES-2016) và 01 loài đặc hữu tại Việt Nam là loài Thạch sùng mí lichtenfer (Goniurosaurus lichtenfelderi).2 Vịnh Hạ Long 1.1 Vị trí địa lý Vịnh Hạ Long thuộc Vịnh Bắc Bộ nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh (Hình 1.