phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn này dự kiến chia thành 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN: Tổng hợp những quan điểm khác nhau về thành ngữ, tục ngữ tiếng Thái Lan và tiếng Việt, chỉ ra khái niệm thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ và quan niệm về ngƣời phụ nữ trong văn hóa. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Thái Lan 1. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt 1. Thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ 1.
Khái quát chung về văn hóa Thái Lan và Việt Nam 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 : THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG TIẾNG THÁI LAN VÀ TIẾNG VIỆT VỀ THÂN PHẬN PHỤ NỮ VÀ PHỤ NGỮ: : Thống kê các thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ và phụ nƣ trong tiếng Thái Lan và tiếng Việt, sau đó phân tích các thành ngữ, tục ngữ đó về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa. Thành ngữ, tục ngữ về trong tiếng Thái Lan và tiếng Việt về thân phận phụ nữ 2. Cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ trong tiếng Thái Lan 2. Nghĩa biểu trƣng của thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ tiếng Thái Lan 2.
Cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ trong tiếng Việt 2. Nghĩa biểu trƣng của thành ngữ về thân phận phụ nữ tiếng Việt 2. Thành ngữ, tục ngữ về trong tiếng Thái Lan và tiếng Việt về phụ nữ 2. Cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ trong tiếng Thái Lan 2.
Nghĩa biểu trƣng của thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ tiếng Thái Lan 2. Cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ về thân phận phụ nữ trong tiếng Việt 2. Nghĩa biểu trƣng của thành ngữ về thân phận phụ nữ tiếng Việt 2. Tiểu kết CHƢƠNG 3 : ĐẶC TRƢNG VĂN HÓA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM QUA THÀNH NGỮ VỀ THÂN PHẬN PHỤ NỮ: Chỉ ra sự tƣơng đồng cũng nhƣ khác biệt trong đặc trƣng văn hóa Thái Lan và Việt Nam qua các thành ngữ, tục ngữ đó.
Nghề việc nội trợ 3. Vai trò kinh tế của ngƣời phụ nữ 3.Tín ngƣỡng, tôn giáo 3. Lịch sử, truyền thuyết, chuyện kể 3. Tiểu kết KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHỤ LỤC 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Khái niệm thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Thái Lan Từ “thành ngữ” trong tiếng Việt, khi chuyển ngữ tƣơng đƣơng sang tiếng Thái là từ “สานวน”, Khunwichitmattra (35, tr.3) khi tìm hiểu ý nghĩa của từ “สานวน” cho rằng: Lời nói của con ngƣời, cho dù ở quốc gia hay ngôn ngữ nào thì đều có thể phân chia thành 2 nhóm lớn. Nhóm thứ nhất là những ngôn từ đƣợc hiểu với nghĩa đen, khi nói ra có thể hiểu ngay. Nhóm thứ hai là nhóm ngôn từ đƣợc diễn đạt theo nghĩa bóng, ngƣời nghe có thể hiểu ngay nếu nhƣ những câu từ đó đƣợc sử dùng một cách thƣờng xuyên, rộng rãi. Nhƣng nếu không đƣợc sử dùng rộng rãi, ngƣời nghe không thể hiểu ngay mà phải suy nghĩ, tìm hiểu mới có thể nắm đƣợc ý nghĩa sâu xa của những ngôn từ đó, thậm chí còn hiểu sang một ý nghĩa khác, hoặc không thể hiểu đƣợc ý nghĩa của những ngôn từ đó.
Ngƣời ta gọi những ngôn từ thuộc nhóm thứ hai này là “ส านวน” hay chính là “thành ngữ”. Trong cuốn từ điển của Ratchabandittayasathan, xuất bản năm 2003, có đƣa ra định nghĩa về thành ngữ nhƣ sau: “Thành ngữ” là những cụm từ cố định đã quen dùng từ lâu đời mà nghĩa của nó thƣờng không thể giải thích đƣợc một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó (43, tr. Ví dụ nhƣ: หนังหน้ าไฟ (Da trƣớc lửa) ý nói ngƣời phải chịu đựng khổ sở hoặc nguy hiểm trƣớc ngƣời gây chuyện thực sự; ราไม่ ดีโทษปี่ โทษกลอง (Vụng múa chê đất lệch) ám chỉ sự đổ thừa cho ngoại cảnh khi bản thân không thành công trong một việc nào đó. Cũng tƣơng tự nhƣ định nghĩa về thành ngữ ở trên, Sophana Srichampa (40, tr.1) cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ nhằm truyền đạt ý nghĩa cụ thể.
Thành ngữ bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tế của đời sống con ngƣời, thông qua sự quan sát những sự kiện thực tế kết hợp với sự liên tƣởng, so sánh ví von trong cuộc sống hàng ngày”. Cục học thuật, Bộ giáo dục Thái Lan cho rằng “Thành ngữ” là những từ ngữ mà ý nghĩa không phải sự tổng hợp ý nghĩa của các từ riêng lẻ, đƣợc biểu đạt và hiểu thông qua so sánh. Thành ngữ là một loại ngôn ngữ đƣợc diễn đạt không tuân theo một nguyên tắc học thuật hoặc không nhấn mạnh tính giáo huấn (30, tr. ข-ค), chẳng hạn nhƣ: ตาบอดได้ แว่ น (Ngƣời mù đƣợc kính lão) v.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chatchawadi Sonlam cho rằng: “Thành ngữ là một cụm từ thể hiện sự so sánh giữa 2 sự vật, sự việc hoặc 2 đối tƣợng khác nhau trên một số phƣơng diện nhƣng vẫn có đặc điểm chung trong một vài khía cạnh nào đó. Đồng thời, mỗi thành ngữ lại đƣa ra một cách nghĩ hay một ý kiến khác nhau, thông qua việc sử dùng các từ hoặc cụm từ nhằm đƣa ngƣời đọc hoặc ngƣời nghe hiểu đƣợc cách nghĩ hay ý kiến mà ngƣời viết hoặc ngƣời nói muốn đề cập”. Nhƣ vậy vô hình trung các từ hoặc cụm từ đó đã đóng vai trò làm phƣơng tiện để ngƣời nghe hoặc ngƣời đọc hiểu đƣợc cái ý mà ngƣời viết hoặc ngƣời nói muốn nói tới (29, tr. Ngoài ra, tiếng Thái còn có các tổ hợp từ tƣơng tự nhƣ thành ngữ ở chỗ, cùng đƣợc hiểu theo nghĩa bóng, cùng là các cụm từ đƣợc dùng để so sánh ví von, đƣa ngƣời đọc hoặc ngƣời nghe hiểu đƣợc cái ý sâu xa mà ngƣời viết hoặc ngƣời nói muốn truyền đạt các cụm từ đó là tục ngữ.
Từ điển do Ratchabandittayasathan xuất bản có định nghĩa từ “สุภาษิต” (tục ngữ) nhƣ sau: “Tục ngữ là danh từ, nghĩa là tập hợp từ đã quen dùng từ lâu đời, thể hiện lời khuyên răn dạy dỗ (43, tr.1,189), ví dụ nhƣ: กงกากงเกวียน (Bánh xe quay vòng) nói về quy luật nhân quả, sống nhƣ thế nào sẽ phải chịu hậu quả nhƣ thế ấy, hoặc นา้ เชี่ ยวอย่ าเอาเรื อมาขวาง (Nƣớc chảy xiết đừng chặn thuyền) nghĩa là đừng chống lại ngƣời có thế lực, không mang lại lợi ích gì. Sophana Srichampa trong cuốn “Tục ngữ, thành ngữ, cách ngôn Thái Lan” cho rằng “Tục ngữ” linh hoạt, mang tính giáo huấn thâm sâu về những hành vi ứng xử liên quan đến phép tắc, lễ nghĩa và những hành vi, hành động khác nói chung” (40, tr. Tục ngữ bao gồm hai đặc điểm chính: là một câu nói ngắn gọn súc tích nhƣng có ý nghĩa sâu sắc, và tục ngữ phải hàm chứa một bài học, truyền tải một kinh nghiệm dựa trên logic sự thật (30, tr. Nikhom Khaulat đã đƣa ra ý kiến về sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ: Tục ngữ là những từ ngữ có nội dung khuyên răn, dạy bảo, nhắc nhở con ngƣời.
Còn thành ngữ là việc hành văn, diễn tả ý, phần lớn là những từ ngữ miêu tả hình ảnh cụ thể hoặc có nghĩa bóng, có thể đƣợc hình thành từ thời xa xƣa hoặc mới 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc hình thành từ một nhóm ngƣời nào đó (36, tr. Có thể tổng kết lại, “ส านวน” (có nghĩa tƣơng đƣơng với “thành ngữ” trong tiếng Việt) là những cụm từ cố định ngắn gọn, có hàm nghĩa bóng, không đƣợc hiểu nhƣ nghĩa gốc của từ, có ẩn ý, hoặc có hàm ý so sánh. Thành ngữ đƣợc phân biệt với tục ngữ ở nội dung là tục ngữ có nội dung dạy bảo nhắc nhở dựa trên quy luật sống, phật giáo và thƣờng ngạn ngữ và tục ngữ có vần điệu. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt Tìm hiểu về khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra những quan điểm có nhiều nét tƣơng đồng.
Dƣơng Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu” định nghĩa: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè” (7, tr. Cụ thể hơn, Nguyễn Văn Mệnh diễn giải trong “Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt”: “Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn. Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế” (14, tr. Đồng quan điểm, Cù Đình Tú trong “Góp ý kiến phân biệt về thành ngữ và tục ngữ” viết: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động” (25, tr.
Để làm rõ khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt, trƣớc tiên tôi muốn đặt khái niệm này trong quan hệ so sánh với các khái niệm có đôi nét tƣơng đồng là từ ghép, quán ngữ và tục ngữ. Từ ghép và thành ngữ, theo phân tích của Nguyễn Thiện Giáp, đƣợc phân biệt bởi tính cố định của ngữ, “được đo bằng khả năng mà yếu tố đó có thể dự đoán sự xuất hiện đồng thời của các yếu tố còn lại của kết hợp” (6, tr.72) Có thể dẫn ra đây một số ví dụ về tính cố định nhƣ từ qué trong gà qué, nhẹn trong nhanh nhẹn, hay ngồi trốc trong ăn trên ngồi trốc. Tuy nhiên thành ngữ đƣợc tách ra thành một nhóm độc lập trong ngữ cố định, phân biệt với từ ghép bởi tính thành ngữ. Cũng theo cách diễn giải của Nguyễn Thiện Giáp, “một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là một cái gì mới, khác với tổng số ý nghĩa của những bộ phận tạo thành… 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ khi dịch toàn bộ tổ hợp người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố mà yếu tố đó chỉ tương đương với từ ấy khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong trật tự nhất định).
Thêm vào đó, từ này có thể được gặp cả khi không có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác” (6, tr.