CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động Tạo động lực lao động là một vấn đề không mới nhưng hiện nay vẫn đang rất được các nhà chuyên môn, doanh nghiệp, cá nhân coi trọng tìm hiểu, nghiên cứu. Có không ít công trình nghiên cứu chuyên sâu đến lĩnh vực tạo động lực lao động như: Rahaman M.M (2020) trong “What Factors Do Motivate Employees at the Workplace? Evidence from Service Organizations” đã chỉ ra có 10 nhân tô ảnh hưởng tới tao động lực cho người lao động trong doanh nghiệp.
Bằng việc khảo sát 183 người lao động ở một doanh nghiệp tại Banglades, các tác giả đã kiểm định và xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới tạo động lực cho người lao động thông qua việc phân tích định lượng và xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính. Từ đó, khuyến nghị doanh nghiệp cần hoàn thiện hay thúc đây những nhân tố có mức ảnh hưởng mạnh nhằm tăng cường tạo động lực cho người lao động trong điều kiện hiện có của doanh nghiệp. Ở một bối cảnh khác, Anderfuhren-Biget, S. (2010) lại nghiên cứu tạo động lực cho người lao động ở khu vực công trong bài “Motivating employees of the public sector: does public service motivation matter?”.
Những nhân tố tác động tới tao động lực cho người lao động được các tac giả đề cập bao gồm hai nhóm là khuyến khích vật chất và quan hệ và hỗ trợ nhóm. Mô hình lý thuyết này sau đó được thử nghiệm với đữ liệu thu thập được trong một cuộc khảo sát quốc gia với 3.754 công chức ở cấp thành phố của Thụy Sĩ. Kết quả của nghiên cứu cho thấy ở khu vực công, các yếu tố thúc đây quan hệ xã hội lại có tầm quan trọng hơn là các động cơ vật chất đối với động lực làm việc của các công chức. Luận văn thạc sĩ cua Viktoria V.M (2020) là “Strategy, Employee Motivation and Incentives - A qualitative study comparing how organisations across sectors use incentives to motivate employees to reach the goals of the strategy” lại tiếp cận tạo động lực cho người lao động theo một cách khác.
Các tác giả phân tích những yếu tố tạo động lực giữa khu vực tư nhân và khu vực công và so sánh. Kết quả cho thấy các biện pháp khuyến khích phi tài chính thì có tác động mạnh tới cả hai khu vực trong khi các biện pháp khuyến khích tài chính thì được khu vực tư nhân sử dụng nhiều hơn và mang lại hiệu quả cao hơn. Có thể thấy, các nghiên cứu ở nước ngoài về tạo động lực cho người lao động thường sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng và nội dung thường đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tô tới động lực làm việc của người lao động dé từ đó có căn cứ đưa ra khuyến nghị cho các nhà quản lý. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động được tìm thấy ở rất nhiều luận văn thạc sĩ.
Bùi Thị Thu Hường (2018) nghiên cứu “Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại Sở Giao thông — Vận tải tinh Quảng Ninh” trong luận văn thạc sĩ trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên. Tác giả không xây dựng khung lý thuyết riêng mà sử dụng lý thuyết tạo động lực cho người lao động trong các doanh nghiệp để nghiên cứu thực tiễn tại một cơ quan quản lý Nhà nước cấp tỉnh. Chính vì vậy, tạo động lực cho người lao động thông qua kích thích tinh thần sẽ bao gồm: sắp xếp công việc phù hợp, bình xét thi đua khen thưởng, tạo môi trường làm việc thuận lợi, an toàn, giao nhiệm vụ và tăng cường ý thức kỷ luật, phát huy các hoạt động của Công đoàn cơ sở. Nguyễn Minh Đức (2019) nghiên cứu “Tạo động lực cho người lao động tại Tổng Công ty Đông Bắc” (luận văn thạc sĩ trường Đại học Ngoại thương) lại xây dựng khung lý luận về tạo động lực cho người lao động với hai nhóm công cụ là công cụ tài chính (tiền lương, thưởng, trợ cấp, phúc lợi) và công cụ phi tài chính (dao tao, phat triển, đánh giá thực hiện công việc, bố trí nhân lực, môi trường làm việc).
Từ đó, tac gia phân tích thực tiễn tại Tổng Công ty Đông Bắc dé tìm ra những hạn chế và đề xuất giải pháp tạo động lực cho người lao động ở đây. Trần Thị Minh Thu (2017) với luận văn thạc sĩ “Tạo động lực cho người lao động tại Công ty CP Xây dựng và phát triển Dé thị Mê Kông” lại cho rằng những công cụ tạo động lực cho người lao động bao gồm: công cụ kinh tế, công cụ tâm lý giáo dục, công cụ tổ chức hành chính và các điều kiện bên trong. Cách tiếp cận này khác biệt với nhiều nội dung nghiên cứu khác về tạo động lực cho người lao động. Có thê thấy, tạo động lực cho người lao động được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, trong một lĩnh vực thực tiễn hẹp hơn là các công ty được phẩm thì nghiên cứu về điều này vẫn còn khá it Oi. Dao Thị Ngọc Dung (2015) nghiên cứu “Giải pháp tạo động lực cho nhân viên tại Công ty CP Dược Phúc Vinh” (luận văn thạc sĩ đại học Đà Nẵng). Tác giả cho răng, ngoài công cụ tiền lương, doanh nghiệp có thê tạo động lực cho người lao động thông qua cơ hội thăng tiễn, dao tạo và cải thiện môi trường làm việc. Phùng Văn Quý (2017) với luận văn “Tao động lực cho người lao động tại Công ty Dược phâm Gia Minh” thi cho răng doanh nghiệp trước khi áp dụng các công cụ tạo động lực thì cần phải nghiên cứu nhu cầu của người lao động.
Sau đó, những công cụ tài chính và phi tài chính mới có thé được thực hiện một cách hiệu quả. Khoảng trong và hướng nghiên cứu của dé tài Nhìn chung, những công trình trên đây đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng của các chế độ chính sách, động lực lao động. Mỗi nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau và sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau. Đặc điểm chung là các nghiên cứu đều dựa trên nền tảng các lý thuyết cơ bản về tạo động lực cho người lao động.
Đây cũng là căn cứ mà tác giả cần kế thừa trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tạo động lực cho người lao động ở doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh được phẩm còn khá ít ỏi, chưa thấy rõ nét đặc trưng của các doanh nghiệp đặc thù này. Đặc biệt, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nao liên quan đến van dé tạo động lực cho người lao động ở Công ty CP Traphaco — một công ty sản xuất và kinh doanh dược phẩm có bề dày lịch sử, luôn cần đội ngũ lao động có sự nhiệt huyết cao trong công việc. Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Tao động lực cho người lao động tại Công ty CP Traphaco” sẽ đóng góp vào một phần nào đó vào việc hoàn thiện chính sách đối với người lao động của Công ty nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Động lực và tạo động lực cho người lao động 1. Khái niệm và bản chất của động lực lao động 1. Khai niệm động lực lao động Thuật ngữ “động lực” được sử dụng rộng rãi trong đời sông kinh tế - xã hội, xung quanh khái niệm động lực còn có rất nhiều quan niệm và nhận thức khác nhau. Tùy theo từng cách tiếp cận, mỗi tác giả đều đưa ra những quan niệm riêng của minh về động lực.
Trên thực tế có rất nhiều quan niệm về động lực. Theo Kreiter (1995) “Động lực là một quá trình tâm ly ma nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Theo Higgins (1994): “Động lực là lực day bên trong cá nhân dé đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Còn theo Bedeian (1993): “Động lực là sự cô gắng dé đạt được mục tiêu”.
Theo Vũ Thị Uyên (2008): “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực dé hướng ban than dat được mục tiêu cá nhân va mục tiêu của tô chức”. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người dé nang cao moi nỗ luc của mình nhằm dat được mục tiêu hay kết quả cụ thé nào đó”. Động lực bi ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, các yếu tố này thường xuyên thay đổi, trừu tượng và khó năm bắt. Có thé kể ra một số nhân tố sau: nhân tố thuộc về bản thân người lao động, các nhân tố thuộc về công việc, các nhân tố thuộc về tổ chức và môi trường làm việc.
Các nhân tố này rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi người quản lý phải biết kết hợp tối ưu các nhân tô thúc đây khả năng, phạm vi nguồn lực của tổ chức để vừa đạt được mục tiêu cá nhân người lao động vừa đạt mục tiêu tô chức. Từ những định nghĩa trên ta có thé đưa ra cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực của con người là sự tác động tong hop các yếu tố (vật chất và tinh thân) có tác dụng thúc đây, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu tổ chức. Khi con người có động lực tốt, họ sẽ quyết tâm hơn và tự giác hơn, có sự hăng say, nỗ lực hơn trong quá trình làm việc nhăm đạt được những mục tiêu cá nhân và của tô chức. Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt được hiệu quả và năng suất lao động cao thi bat kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh.
Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức ra thì vẫn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động. Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực vả có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Vậy, trước hết cần hiểu rõ thé nado là động lực và tạo động lực lao động. Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực vả tạo động lực lao động.