Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Nhu cầu Xã hội phát triển thì nhu cầu của con người sẽ càng đa dạng và phong phú, bởi nhu cầu của con người là vô tận và không bao giờ có thể thỏa mãn hoàn toàn, tuy nhiên, sự thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần một phần nào vẫn là động cơ để thúc đẩy họ tích cực làm việc. Abraham Maslow - nhà tâm lý học người Mỹ đã đưa ra một khái niệm về nhu cầu và còn đưa ra lý thuyết nhu cầu, đó là: “Nhu cầu con người được chia làm hai nhóm chính: Nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu cơ bản của con người liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi… Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao,…” [29, tr. Moslow, con người luôn bị chi phối bởi 05 nhóm nhu cầu có thứ bậc từ thấp đến cao [29, tr. Trommsdorff (do Ngụy Hữu Tâm – Nguyễn Hoài Bão dịch) cho rằng, “Khái niệm nhu cầu sẽ lưu ý tới sự kiện thời sự hóa ít nhiều định hướng giá trị trong bối cảnh các hoàn cảnh xã hội trên cơ sở sự hoàn thành và đặt nghi vấn khác nhau về giá trị.
Nên dùng khái niệm nhu cầu cho mặt bên trong chủ quan của những sự kiện thường nhật này được hiểu là tình trạng căng thẳng, nhưng khi đó phải đặt điều kiện là giới hạn nghiêm ngặt với cách hiểu khái niệm theo bản thể học” [30]. Mặc dù khá trừu tượng nhưng nó lại được nhìn dưới góc độ xã hội và xét nhu cầu trong bối cảnh các hoàn cảnh xã hội. Theo Bùi Anh Tuấn, “nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn” [22, tr. Theo ông, “Nhu cầu của NLĐ được chia làm hai nhóm cơ bản là nhu cầu về vất chất và nhu cầu về tinh thần.
Nhu cầu về vật chất là các nhu cầu gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con 10 người, còn nhu cầu về tinh thần là những nhu cầu gắn liền với sự hài lòng và thỏa mãn về tâm lý” [22, tr. Tuy các công trình nghiên cứu khoa học hay các cuốn sách giáo khoa đều có những khái niệm, định nghĩa riêng về nhu cầu, nhưng vẫn chưa có định nghĩa chung nhất cho khái niệm này. Song, có thể đưa ra định nghĩa như sau: “Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa”.
Theo khái niệm đó, nhu cầu của NLĐ sẽ quy định xu hướng các lựa chọn của họ, và cũng quy định các hoạt động xã hội của các cá nhân, tập thể. Trong tập thể, mỗi NLĐ là những cá nhân khác nhau về giới tính, độ tuổi, vị trí, trình độ chuyên môn và chính những đặc điểm khác nhau này sẽ tạo ra sự khác nhau về nhu cầu cũng như mong muốn đối với công việc của mỗi NLĐ. Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm “nhu cầu của NLĐ” như sau: “Nhu cầu của NLĐ thể hiện những mong muốn vật chất bậc thấp để tồn tại, phát triển và bậc cao thể hiện sự hài lòng, thỏa mãn về tâm lý của NLĐ như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân”. Động cơ Mỗi cá nhân NLĐ có các nhu cầu khác nhau thì động cơ lao động cũng khác nhau.
NLĐ có động cơ lao động cao thì họ sẽ làm việc chăm chỉ, cố gắng trong công việc và thường đạt được năng suất, chất lượng công việc cao hơn những người không có hoặc có ít động cơ lao động. Theo từ điển Tiếng Việt, “động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người ta suy nghĩ và hành động” [13]. Theo Trần Kim Dung (2015), “Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động của con người (Cộng đồng, tập thể, xã hội) là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra” [5]. Theo đó, động cơ là lý do hành động của con người, thúc đẩy NLĐ làm những việc mà họ hy vọng sẽ đáp ứng được phần nào mong muốn và nguyện vọng của họ, đồng thời thúc đẩy NLĐ hành động theo một cách thức mong muốn.
Thực tế thì động cơ rất trừu tượng và khó xác định, bởi lẽ, động cơ của NLĐ hết sức phong phú và đa dạng, được thể hiện trên 03 (ba) đặc tính: 11 Thứ nhất, động cơ thường bị che dấu bởi bản chất thật và nhiều lý do khác nhau như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân, nhân sinh quan của mỗi người. Thứ hai, động cơ luôn luôn biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau. Thứ ba, động cơ của mỗi NLĐ rất phong phú, đa dạng, phức tạp và thường mâu thuẫn với nhau. Để phân tích và xác định chính xác động cơ của NLĐ, nhà quản lý cần phải phân tích và xác định động cơ quan trọng nhất “số một” và biết cải biến những động cơ đó đối với từng NLĐ cụ thể sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng đáp ứng của tổ chức.
Động lực lao động Động lực xuất phát từ chính bản thân mỗi người và được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống. Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2012), “Động lực là sự khao khát, tự nguyện của cá nhân nhằm tăng cường sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu hay kết quả nào đó” [7]. Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi NLĐ. Hiểu một cách chung nhất, động lực là tất cả những cái gì thôi thúc con người, tác động lên con người thúc đẩy con người hoạt động.
Mỗi cá nhân khác nhau sẽ có những động lực khác nhau và khi có động lực thúc đẩy họ sẽ nỗ lực hết sức để đạt được những mong muốn, mục đích của mình. Theo quan điểm hành vi tổ chức, “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục đích của tổ chức cũng như của bản thân NLĐ” [23, tr. Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của NLĐ, được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi NLĐ đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Mỗi NLĐ đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn. Theo Mai Quốc Chánh (2008), “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người” [4]. Những yếu tố 12 thuộc về cá nhân của NLĐ có vai trò rất quan trọng trong việc tạo động lực lao động thúc đẩy NLĐ làm việc, bao gồm các yếu tố sau: Thứ nhất, lợi ích của con người: Lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu, là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người, còn nhu cầu lại là yếu tố quan trọng nhất của tạo động lực lao động.
Do đó, nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì sẽ không có lợi ích và ngược lại khi nhu cầu từ vật chất và tinh thần thì lúc đó động lực tạo ra sẽ càng lớn. Thứ hai, mục tiêu cá nhân: Mục đích cá nhân là kết quả mong muốn của cá nhân, xảy ra trong tương lai, qua đó sẽ cần có những biện pháp giúp họ đạt đến mục đích ấy. Thứ ba, thái độ cá nhân: Thái độ cá nhân là thái độ nhìn nhận, đánh giá, thái độ của mỗi cá nhân với công việc mà cá nhân ấy thực hiện thông qua những quan niệm xã hội và tác động của môi trường xung quanh. Nếu một cá nhân có thái độ tích cực đối với công việc của họ thì họ sẽ hăng say với làm việc và ngược lại.
Thứ tư, khả năng - năng lực cá nhân: Khả năng – năng lực cá nhân tác động đến cả hai mặt của tạo động lực lao động, nó có thể làm tăng cường động lực lao động nếu cá nhân đó có đủ khả năng – năng lực để giải quyết công việc và ngược lại nếu không đủ khả năng – năng lực thì sẽ làm cho họ nản chí, giảm động lực lao động. Thứ năm, thâm niên, kinh nghiệm công tác: Thâm niên, kinh nghiệm công tác là yếu tố cần được quan tâm và cần tính đến khi trả công lao động. Thông thường, những NLĐ có thâm niên lâu năm thì họ sẽ có mong muốn nhận được mức lương cao hơn để phù hợp hơn với kinh nghiệm của họ, qua đó có thể khuyến khích được NLĐ làm việc cống hiến cho đơn vị một cách có hiệu quả. Tạo động lực lao động Khái niệm tạo động lực lao động đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Theo Lê Thanh Hà (2009), “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của NLĐ cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức” [8, tr. Theo Bùi Anh Tuấn (2016), “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ 13 có động lực trong công việc. Tạo động lực cho NLĐ là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý. Một khi NLĐ có động lực làm việc, thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao NSLĐ và hiệu quả công tác.