Chương 1: Cơ sở lý luận của tái cấu trúc ngân hàng và văn hóa doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng và giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 11 z CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tái cấu trúc ngân hàng 1. Ngân hàng Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng, nhưng trước tiên ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính.
Trung gian tài chính là một tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân thực hiện các chức năng trung gian giữa hai hay nhiều bên trong một hoạt động tài chính nhất định. Cũng có thể hiểu theo một cách định nghĩa khác, trung gian tài chính là một tổ chức hỗ trợ các kênh luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi vay theo phương thức gián tiếp. Những tổ chức trung gian tài chính mà ta thường nghe nhắc đến bao gồm: Ngân hàng; Tổ chức công cộng/hiệp hội; Tổ chức tín dụng nghiệp đoàn; Đơn vị tư vấn/cố vấn tài chính và môi giới; Các hình thức công ty bảo hiểm; Quỹ tương hỗ; Quỹ hưu trí Ngân hàng có thể định nghĩa đơn giản là tổ chức hoạt động kinh doanh cung cấp các dịch vụ ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận. Bản thân ngân hàng đã có lịch sử vài chục thế kỷ phát triển, tính ngược cả về trước Công Nguyên, khi các thầy tu quyết chí đi làm kinh doanh đã mang tiền người ta gửi để cho kẻ khác vay.
Kể từ thời kỳ đó, ngân hàng đã phát triển qua nhiều hình thái, theo xu thế ngày càng mở rộng. Sự mở rộng thể hiện ở lượng dịch vụ, quy mô dịch vụ và ở sự lan rộng vượt ra ngoài mọi biên giới địa lý. Ngày nay, người ta nhắc nhiều đến những khái niệm là Ngân hàng bán lẻ, Ngân hàng Bán buôn, Ngân hàng đầu tư,. Ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp nhưng hàng hóa mà doanh nghiệp này “buôn bán” lại tồn tại dưới hình thái tiền tệ.
Theo Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 2010, Điều 4: - Ngân hànglà loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. 12 z - Ngân hàng thương mạilà loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Khái niệm tái cấu trúc ngân hàng Tái cấu trúc là một từ Hán - Việt có nghĩa là sắp xếp lại cấu tạo của một mô hình.
Mô hình này đã có và được cấu trúc bằng các phần tử mà trong đó mỗi phần tử chiếm một tỷ lệ khác nhau. Qua thực tiễn hoạt động, mô hình đó xuất hiện những phần tử có hiệu quả và những phần tử không hiệu quả. Tái cấu trúc là sắp xếp lại tỷ lệ các phần từ theo hướng tăng cường các phần tử hiệu quả và giảm đi các phần từ không hiệu quả. Đối với một tổ chức, trước hết, tái cấu trúc tổ chức là một hình thức làm mới tổ chức, sắp xếp bố trí lại tổ chức theo một hình thức khác với ban đầu.
Có thể hiểu một cách khái quát định nghĩa về tái cấu trúc như sau: “Tái cấu trúc ngân hàng là việc khảo sát, đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới. Việc tái cấu trúc có thể làm thay đổi hoàn toàn bộ máy hoặc chỉ làm thay đổi một phần bộ máy” Mọi tập đoàn, mọi tổng công ty, mọi doanh nghiệp đều theo một quy luật. Đó là một lúc nào đó phải tái cấu trúc, vừa để đổi mới, vừa để phát triển và trường tồn. Đổi mới vừa là mục tiêu, đồng thời phải là động lực khi sự cạnh tranh ngày nay mang tính toàn cầu.
Nhưng lúc nào phải tái cấu trúc lại là một phạm trù liên quan mật thiết đến tâm lý. Các ban tổng giám đốc, đặc biệt người đứng đầu, thường có khuynh hướng lần lữa, không hành động đúng lúc cho việc tái cấu trúc, dù đã biết vì sao phải tái cấu trúc và nên làm như thế nào. Và tái cấu trúc, khi không có sự nhất quyết, sẽ chỉ là hành động lúc doanh nghiệp đã ở trong tình trạng nguy kịch, sắp phá sản. Chính vì vậy, song song với việc xây dựng cơ cấu, tái cấu trúc cần thực hiện các bước cải tiến các chính sách, quy trình làm việc, phương châm triết lý kinh doanh, phân công, sắp xếp nhân sự và kiểm soát công việc hiệu quả, quy tắc ứng xử giữa các cán bộ nhân viên trong tổ chức.
Đây cũng chỉ mới cải tiến về mặt hình thức, cái áo của doanh nghiệp. Phần quan trọng hơn, doanh nghiệp cần cải tiến chính là nội 13 z lực, nguồn nhân lực của mình. Nếu không tái cơ cấu trở thành con dao hai lưỡi của doanh nghiệp. Các hình thức tái cấu trúc ngân hàng Theo Luật doanh nghiệp 2005, Luật tổ chức tín dụng năm 1997 và Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc quy định sáp nhập, hợp nhất và mua lại tổ chức tín dụng, có thể chia các loại hình tái cấu trúc ngân hàng theo 3 hình thức chính sau: 1.
Hợp nhất: Luật Doanh nghiệp đã định nghĩa việc hợp nhất doanh nghiệp (hợp nhất ngân hàng) là: “Hai hay một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”. Sáp nhập Một cách tổng quát sáp nhập là một sự hấp thụ một hay nhiều công ty bởi một công ty đơn lẻ hiện hữu. Theo Luật doanh nghiệp, sáp nhập là: “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập)bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”. Sáp nhập doanh nghiệp theo nghĩa hẹp là giao dịch trong đó một hoặc một số doanh nghiệp từ bỏ pháp nhân của mình để gia nhập vào một doanh nghiệp khác.
Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Sau khi việc sáp nhập hoàn thành doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình. Sáp nhập theo nghĩa rộng ngoài định nghĩa theo nghĩa hẹp còn bao gồm cả việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp trước sáp nhập (sáp nhập theo nghĩa rộng bao gồm cả hợp nhất). 14 z Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp, có nhiều hình thức sáp nhập khác nhau: + Sáp nhập ngang hay còn gọi là sáp nhập cùng ngành thường diễn ra với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp về sản phẩm và thị trường; + Sáp nhập dọc diễn ra với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, chẳng hạn giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của họ; + Sáp nhập mở rộng thị trường diễn ra với hai công ty có cùng loại sản phẩm, nhưng phân phối ở những thị trường khác nhau; + Sáp nhập mở rộng sản phẩm diễn ra với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng liên quan trong cùng một thị trường; + Sáp nhập kiểu tập đoàn là hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh, nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề.
Như vậy, sáp nhập diễn ra khi một doanh nghiệp nhập vào một doanh nghiệp khác và chấm dứt sự tồn tại của mình. Ví dụ, khi doanh nghiệp A nhập vào doanh nghiệp B, doanh nghiệp A sẽ không tồn tại nữa, cổ phiếu của doanh nghiệp A sẽ được chuyển đổi sang cổ phiếu của doanh nghiệp B. Cách thức quản lý điều hành doanh nghiệp sau sáp nhập khác với trường hợp mua lại doanh nghiệp vì hai doanh nghiệp sáp nhập sẽ bắt tay nhau đồng tâm hiệp sức để xây dựng một doanh nghiệp mới dù rằng trên thực tế về mặt pháp lý có một bên bị sở hữu và một bên được sở hữu. Mua bán Trước hết, mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại).
Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại. Các hình thức tái cấu trúc trên được gọi là hoạt động M&A.M&A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh mergers and acquisitions có nghĩa là mua bán và sáp nhập) là việc mua bán và sáp nhập các doanh nghiệp trên thị trường. 15 z M&A được thực hiện trong một số trường hợp như sau: Nguyên tắc cơ bản: để tiến hành mua lại và sáp nhập một công ty là việc đó phải tạo ra được những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được. Về mặt giá trị: của công ty sau khi tiến hành M&A phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của cả hai công ty khi còn đứng riêng rẽ.
Về năng lực cạnh tranh: Những công ty mạnh mua lại công ty khác thường nhằm tạo ra một công ty mới với năng lực cạnh tranh cao hơn, đạt hiệu quả tốt về chi phí, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, hiệu quả vận hành cũng hơn. Đồng thuận: Các cổ đông phải đồng ý về việc này với đa số phiếu thuận 1. Mục đích của quá trình tái cấu trúc ngân hàng Các ngân hàng thương mại Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng do chất lượng tài sản kém, khó khăn về thanh khoản, chất lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị và về quản lý rủi ro. Trong giai đoạn năm 2010 và 2013, thị trường tài chính Việt Nam có hiện tượng bão hòa và đã có rất nhiều ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng, khó khăn trong hoạt động kinh doanh.