CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP: 1. Khái niệm về tăng huyết áp: Một người lớn được gọi là THA khi HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg hoặc HA tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ HA hàng ngày. Theo y văn, 90 - 95% THA không rõ nguyên nhân, do vậy việc phát hiện sớm và phòng ngừa THA gặp rất nhiều khó khăn, đa số bệnh nhân được phát hiện một cách tình cờ.
Trước kia, THA thường được phân độ trên trị số HATTr. Hiện nay phân độ THA dựa trên cả HATT lẫn HATTr. THA tâm thu đơn thuần xảy ra khi HA tâm thu ≥ 140mmHg còn HA tâm trương < 90mmHg. THA tâm thu đơn thuần thường xảy ra ở người lớn tuổi [14],[34].
Hiện nay, Tổ Chức Y Tế Thế Giới và Hội THA quốc tế (World Health Organization /International Society of Hypertension - WHO/ISH) [42] đã thống nhất gọi là THA khi HA tối đa ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu ≥ 90 mmHg. Con số này có được là do dựa trên những nghiên cứu lớn về dịch tễ cho thấy [30] Có sự gia tăng đặc biệt nguy cơ tai biến mạch máu não ở người lớn có con số huyết áp ≥ 140/90 mmHg. - Tỷ lệ TBMMN ở người có số HA < 140/90 mmHg thấp hơn một cách rõ rệt so với người có huyết áp 140/90 mmHg. * Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp Gọi là tăng huyết áp khi: - Huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc - Huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg.
Phân loại tăng huyết áp Hiện nay, hầu hết người ta sử dụng cách phân loại của Liên Ủy Ban Quốc gia (JNC) Hoa Kỳ trong báo cáo lần thứ sáu (JNC VI) về dự phòng, đánh giá, và điều trị THA do tính chất thực tiễn khả thi của nó.1: Phân loại HA Theo JNC VI – 1997 [38] Phân loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Tối ưu ≤ 120 mmHg ≤ 80 mmHg Bình thường < 130 mmHg Và < 85 mmHg Bình thường cao 130 - 139 mmHg 85 - 89 mmHg Tăng huyết áp Độ I 140 - 159 mmHg 90 - 99 mmHg Độ II 160 - 179 mmHg 100 - 109 mmHg Độ III ≥ 180 mmHg ≥ 100 mmHg Hướng dẫn của WHO/ISH đã công nhận định nghĩa của JNC VI. Thêm vào đó WHO/ISH cũng có cách phân loại tương tự [38] 6 Bảng 1.2: Phân loại HA Theo WHO/ISH - 1999 Loại HA HATT HATTr Tối ưu < 120 mmHg <80 mmHg Bình thường < 130 mmHg < 85 mmHg Bình thường cao 130 – 139 mmHg 85 – 89 mmHg THA độ 1(nhẹ) 140 – 159 mmHg 90 – 99 mmHg Phân nhóm độ 1 giới hạn 140 – 149 mmHg 90 – 94 mmHg THA độ 2 vừa 160 – 179 mmHg 100 – 109 mmHg THA độ 3 nặng ≥ 180 mmHg ≥ 110 mmHg THA tâm thu đơn độc ≥ 140 mmHg < 90 mmHg Phân nhóm giới hạn 140 - 149 mmHg < 90 mmHg Theo báo cáo lần thứ VII (2003) của Liên Ủy Ban Quốc gia (JNC) về phòng ngừa, phát hiện, đánh giá và điều trị THA, phân loại THA như sau Bảng 1.3: Phân loại HA Theo JNC VII 2003 [35]. Phân loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Bình thường < 120 mmHg Và < 80 mmHg Tiền THA 120 – 139 mmHg Hoặc 80 – 89 mmHg THA giai đoạn 1 140 – 159 mmHg Hoặc 90 – 99 mmHg THA giai đoạn 2 ≥ 160 mmHg Hoặc 100 mmHg Các yếu tố nguy cơ tim mạch theo JNC VII [35] gồm các yếu tố nguy cơ chính như THA, hút thuốc lá, béo phì, ít hoạt động thể lực, rối loạn lipid máu, đái 7 tháo đường. Các tổn thương cơ quan đích như phì đại thất trái, đau thắt ngực, suy tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.
Tỷ lệ THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao. Năm 2003, THA ước tính gây 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu và tỷ lệ THA ở các vùng đô thị các nước đang phát triển cũng cao như các nước phát triển. Nguyên nhân và bệnh sinh của bệnh THA [34] 1. Yếu tố di truyền trong THA Chứng cứ về di truyền là nguyên nhân của THA bao gồm: - Tương quan về THA giữa sinh đôi đồng hợp tử (monozygotic twins) so với sinh đôi dị hợp tử (dizygotic).
- Tương quan về THA trong một gia đình. Hiện nay mới xác định được biến chứng của khoảng 10 gene gây ra THA. Các biến chứng này ảnh hưởng đến HA qua trung gian giữ muối và nước ở thận. Không chỉ là yếu tố gene, có thể có tương tác giữa các yếu tố môi trường, dân số và gene trong THA.
Tăng hoạt giao cảm [34] Sự điều hòa huyết áp nhanh và sớm là vai trò của hệ thần kinh thực vật thông qua các áp cảm thụ quan thành mạch. Có các áp cảm thụ quan chủ yếu sau: - Các áp cảm thụ quan áp suất ở động mạch chủ và xoang động mạch cảnh. - Các áp cảm thụ quan áp suất thấp ở tim và phổi. Tăng hoạt mạch máu và tái cấu trúc mạch máu [34] Người có tiền sử gia đình THA, sẽ tăng co mạch khi gặp lạnh hay stress tình cảm, do đó dễ bị THA.
Tái cấu trúc mạch máu làm tăng sức cản mạch ngoại vi do đó làm THA. Sinh thiết mô cơ bệnh nhân THA tiên phát không điều trị cho thấy lớp trung mạc bị dày 8 và giảm khẩu kính lòng mạch. Độ cứng động mạch [34]. HATT và áp lực mạch (pulse pressure: độ chênh giữa HATT và HATTr) gia tăng khi độ cứng động mạch lớn gia tăng.
Độ cứng mạch máu lớn tăng do xơ vữa động mạch và vôi hóa. Vận tốc sóng mạch (pulse wave velocity) ở người trẻ khoảng 5m/giây, do đó sóng phản hồi về tới van ĐMC vào lúc van đã đóng. Nhờ đó áp lực máu tâm trương cao, giúp tưới máu đủ cho mạch vành. Ở người cao tuổi động mạch cứng hơn, độ dãn (compliance) giảm, vận tốc sóng mạch có thể lên tới 20m/giây.
Do đó sóng phản hồi về vào lúc van ĐMC mở. Hậu quả là áp lực tâm thu cao, áp lực tâm trương giảm và áp lực mạch gia tăng. Hệ Renin - Angiotensin - Aldosterone (RAA) [34] Hệ thống RAA đóng vai trò quan trọng trong điều hòa HA cả ở người bình thường lẫn người bị bệnh THA. + Renin được tổng hợp và phóng thích ra từ cấu trúc cạnh vi cầu thận (nằm sát thành động mạch đến).
+ Renin có vai trò xúc tác chuyển angitensinogen thành angiotensin I (AG I). Qua trung gian của men chuyển (ACE), Angiotensin I sau đó được chuyển thành angiotensin II (AG II). AG II có tác dụng trực tiếp co mạch, kích thích tổng hợp và phóng thích aldosterone, kích thích tái hấp thu natri từ ống thận (trực tiếp hay qua trung gian aldosterone), ức chế phóng thích renin, kích thích tiết ADH (antidiuretic hormone) và tăng hoạt giao cảm. AG II tác động được qua trung gian thụ thể.
Vai trò của Aldosterone: Cường aldosterone tiên phát có thể do bướu tuyến thượng thận (adrenal adenoma-hội chứng Conn), hoặc tăng sinh thượng thận (adrenal hyperplasia). Trước kia bệnh này chỉ chiếm < 1% nguyên nhân gây THA. Vai trò của natri và rối loạn chức năng thận [34]. Có nhiều chứng cớ về vai trò của muối natri trong THA: - Ở nhiều quần thể dân chúng, sự tăng HA theo tuổi có tương quan trực tiếp đến lượng natri tiêu thụ.
- Ở nhiều nhóm dân chúng rải rác, khi tiêu thụ ít muối natri sẽ không có hay rất ít THA. Khi tiêu thụ nhiều natri, THA xuất hiện. - Ở vài người, ăn nhiều muối natri một thời gian ngắn, sức cản mạch tăng và HA tăng. Thay đổi màng tế bào Nhiều tác giả cho rằng nồng độ natri trong nội bào tăng là nguyên nhân chính trong cơ chế bệnh sinh của THA, ngoài ra sự tăng Ca²+ nội bào cũng là một yếu tố quyết định.
Chính sự gia tăng nồng độ Ca²+ nội bào làm cho tế bào cơ trơn thành mạch tăng tính co thắt khi đáp ứng với các chất vận mạch vì vậy gây THA. Màng tế bào có sự tăng thẩm thấu di truyền đối với Na+, Ca2+ vào trong tế bào của cơ trơn mạch máu và trong tế bào máu nhất là hồng cầu dẫn đến tăng tính co mạch, tăng sức cản ngoại vi. Vai trò của béo phì và kháng Insulin Cơ chế tác dụng của insulin đối với HA đã được chứng minh gồm: Làm tăng hấp thu natri và nước ở thận. Tăng nhạy cảm với thừa ứ natri (biểu hiện ở HA) Thay đổi vận chuyển ion qua màng.
Tăng nhạy cảm với aldosterone và angiotensin II. Tăng tích lũy Ca++ nội bào. 10 Tăng sản xuất yếu tố sinh trưởng (cơ trơn thành mạch) Kích thích hoạt động thần kinh giao cảm. Tăng tiết endothelin I [27].
Vai trò của Nitic oxide (NO), Endothelin rối loạn chức năng nội mạc Trước đây, nội mạc chỉ được xem là một lớp lót của mạch máu. Ngày nay, nội mạc được biết đến như một cơ quan có nhiều vai trò sinh lý khác nhau: + Điều hòa vận mạch: nội mạc tổng hợp cả những chất dãn mạch (nitric oxide, prostacylin…) lẫn các chất co mạch (endothelin, angiotensinII). Trương lực mạch máu tại chỗ phụ thuộc vào sự cân bằng các chất dãn mạch và co mạch kể trên. + Chống bám dính bạch cầu: nitric oxide do nội mạc tổng hợp có tác dụng chống bám dính bạch cầu.
+ Chống huyết khối: do nitric oxide ức chế bám dính và kết tập tiểu cầu. + Các chức năng khác: nội mạch còn tham gia vào quá trình đông máu, tiêu sợi huyết, phản ứng viêm và quá trình tạo mạch máu. THA là yếu tố nguy cơ của biến cố tim mạch Các nhà dịch tễ học đã xác định chắc chắn rằng có sự liên quan giữa THA và các rối loạn khác, đặc biệt là bệnh của động mạch vành, tai biến mạch máu não và suy tim xảy ra tùy mức độ THA[1],[23]. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LIÊN QUAN ĐẾN THA 1.
Tuổi Tuổi càng cao thành mạch càng xơ cứng, mối liên quan giữa tuổi và THA đã được xác định qua nhiều nghiên cứu cắt ngang cho thấy có liên hệ giữa tuổi và HA trong hầu hết các dân tộc với những khác nhau về địa dư, văn hoá, và đặc tính kinh tế xã hội, tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng cao [1],[17]. Giới Sự khác nhau giữa hai giới cũng liên quan với tuổi. Ở tuổi trẻ thì THA ở nam cao hơn do hút thuốc, uống rượu, kinh tế xã hội…, nhưng ở nữ khi trên 50 tuổi thì tỷ lệ THA cao hơn do ảnh hưởng của nội tiết tố thời kỳ mãn kinh, sử dụng hormon thay thế, béo phì, giảm hoạt động thể lực…, tuy nhiên sự khác biệt không rõ rệt [17].