mở đầu của các biến chứng tim ở bệnh nhân THA [27], [56]. Theo thời gian, khi tăng tải huyết động kéo dài thì chưc năng tâm thu sẽ giảm dần và suất hiện suy tim tâm thu. - Phì đại thất trái: Ảnh hưởng của tăng huyết áp lên tim đã dược nhận biết cách đây 70 năm. Phì đại thất trái là do đáp ứng thích nghi của tim với tình trạng tăng hậu tải để giảm sức căng thành và cho phép thất duy trì hiệu quả co bóp.
Phì đại thất trái là bất thường tim mạch thường gặp nhất trong THA. Siêu âm tim với độ nhạy và độ chuyên biệt 80% xác định phì đại thất trái khi LVM lớn hơn 2,5-5% so với cộng đồng, chủ yếu là kiểu phì đại thất trái đồng tâm. Điện tâm đồ cũng giúp phát hiện phì đại thất trái với độ nhạy 20-40% và độ chuyên biệt 90%. Dù độ nhạy thấp phì đại thất trái khi hiện diện trên ECG dự báo gia tăng 3 đến 7 lần nguy cơ biến chứng tim mạch.
Phì đại thất trái chiếm 15-20% bệnh nhân THA. Phương pháp và tiêu chuẩn chẩn đoán phì đại thất trái : Tiêu chuẩn phì đại thất trái trên X quang: Tỉ lệ Tim / Lồng ngực > 0. Tiêu chuẩn phì đại thất trái trên điện tâm đồ: Các tiêu chuẩn sau đây được sử dụng nhiều trong thực hành lâm sàng : Chỉ số SOKOLOV-LYON S ở V1 + R ở V5 hay V6 35mm, hoặc R ở V5 hay V6 > 26 mm. Chỉ số CORNELL: R ở aVL + S ở V3 >28 mm (nam), >20mm(nữ).
Đánh giá phì đại thất trái trên siêu âm tim: dựa vào chỉ số khối cơ thất trái: Theo Hội siêu âm Hoa Kỳ [29], [46]. Giá trị xác định ở nữ > 95g/m2; ở nam > 115g/m2. Giới hạn bình thường và bệnh lý của chỉ số khối cơ thất trái Đo Nữ Nam M- mode Bình Tăng Tăng Tăng Bình Tăng Tăng Tăng thường nhẹ vừa nặng thường nhẹ vừa nặng 163- 187- 225- 259- LVM(g) 67-162 211 88-244 293 186 210 258 292 LVMI 96- 109- 116- 132- 43-95 122 49-115 149 (g/m2) 108 121 131 148 Công thức tính LVM [29], [46] LVM= 0.6g 3 3 Đo thực hiện cuối tâm trương( khởi đầu QRS) đơn vị cm. Theo Hội siêu âm Hoa Kỳ, công thức nầy có tương quan tốt với mổ tử thi (r= 0.
LVMI= LVM/BSA(g/m2) Đánh giá phì đại thất trái bằng cộng hưởng từ hạt nhân Khối lượng cơ thất trái được đo theo phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI: Magnetic Resonance Imagin) có thể được xem là tiêu chuẩn vàng của các phương pháp khảo sát thất trái. Tuy nhiên, nó có những hạn chế: giá thành lại quá cao nên không phổ biến bằng siêu âm tim. - Bệnh động mạch vành: Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn nhất của bệnh mạch vành tim. Ngay cả khi không có phì đại thất trái, tăng huyết áp đã làm giảm dự trữ vành đáng kể vì khả năng dãn mạch vành bị tổn thương.
Tăng huyết áp làm tăng bất thường chức năng nội mac, áp lực máu cao dể gây lắng động mảng xơ vữa, nguy cơ bào mòn, nứt vỡ bề mặt các mảng nầy gây hội chứng vành cấp. Gia tăng áp lực xuyên thành, áp lực thất trái và lực xé đưa đến tăng sinh phì 11 đại cơ trơn làm tăng độ dày thành mạch, giảm khả năng dãn mạch. Sự hiện diện kèm theo của phì đại thất trái gây tăng 2,3 lần nguy cơ mắc bệnh và 2,5 lần nguy cơ tử vong do những thay đổi về dẫn truyền và tái cực. Diễn tiến của thiếu máu cơ tim phản ánh sự mất cân bằng giữa cung và cầu oxy cho cơ tim.
Tăng huyết áp có thể dể dàng phá vỡ sự cân bằng trên do làm giảm cung và tăng nhu cầu oxy cơ tim. Tử vong do bệnh mạch vành gia tăng cùng với mức tăng huyết áp và tăng huyết áp làm tăng biến cố nhồi máu cơ tim [59].Tổn thương trên mạch máu lớn - Phình động mạch chủ bụng: Tần suất của phình động mạch chủ bụng đang có khuynh hướng tăng lên có thể do tăng số người lớn tuổi. Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân gây tăng bệnh nầy. Tầm soát phình động mạch chủ bụng cần thực hiện cho tất cả nam giới trên 65 tuổi, nghiện thuốc lá.
Túi phình có kích thước > 5 cm có thể được điều trị bằng can thiệp nội mạch. - Bóc tách động mạch chủ: 80% bệnh nhân bóc tách động mạch chủ có THA. Cơ chế của bóc tách động mạch chủ có thể do sự kết hợp giữa áp lực mạch cao và xơ vữa động mạch. Áp lực càng cao càng dể mắc bệnh.
Bóc tách động mạch chủ có thể xảy ra ở cả đoạn gần ( nhánh lên-tip A, cần phẫu thuật) và đoạn xa (nhánh xuống- tip B, điều trị nội khoa) của động mạch chủ. Tăng huyết áp thường liên quan đến bóc tách đoạn xa. - Bệnh động mạch ngoại biên: Bệnh động mạch ngoại biên chiếm tỷ lệ 4,3% số người trên 40 tuổi [56], thường biểu hiện bằng triệu chứng đi cách hồi, báo trước một nguy cơ tử vong cao do bệnh tim mạch tiếp theo sau. Đo chỉ số huyết áp cổ chân-cánh tay giúp chẩn đoán và phân tầng nguy cơ bệnh động mạch ngoại biên [55].Tổn thương mạch máu não - Đột quị: Đôt quị là nguyên nhân thứ hai của tử vong và là nguyên nhân hàng đầu của những di chứng thần kinh gây tàn phế.
Tăng huyết áp là nguy cơ chính của đột quị có thể điều trị được. Tăng huyết áp gây nên biến đổi hình dạng các mạch máu não và huyết động tuần hoàn não. Các mạch máu lớn, các chỗ chia nhánh trở nên phì đại tái cấu trúc do đó làm thay đổi tuần hoàn não [27]. Cơn thiếu máu não thoáng qua kéo dài dưới 24 giờ do thiếu máu vì huyết khối từ mảng xơ vữa trong động mạch cảnh thường báo trước nguy cơ đột quị thật sự.
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc ở người có tuổi làm tăng nguy cơ đột quị lên 2,7 lần so với người cùng tuổi có huyết áp bình thường. - Bệnh động mạch cảnh ngoài sọ: Phát hiện bệnh động mạch cảnh ngoài sọ rất quan trọng vì có thể điều trị để ngăn ngừa diễn tiến đến đột quị. Xơ vữa động mạch cảnh thường kết hợp với khả năng xảy ra cơn thoáng thiếu máu não và các biến cố tim mạch khác. Xuất hiện âm thổi tâm thu ở động mạch cảnh gia tăng hai lần nguy cơ nhồi máu cơ tim.
xơ vữa động mạch cảnh có mối liên quan rõ rệt với xơ vữa động mạch vành [15]. Do đó, phát hiện bệnh động mạch cảnh đoạn ngoài sọ còn có giá trị dự báo tổn thương động mạch vành, dự đoán đột quị. Những biến đổi về chức năng và hình thái của động mạch cảnh thường kết hợp với phì đại thất trái. Các biến đổi của động mạch cảnh và phì đại thất trái đều phản ảnh sự thích nghi với tình trạng THA và cả hai đều biểu thị nguy cơ cao bị các biến chứng tim mạch.
Động mạch cảnh 1. Vị trí giải phẫu động mạch cảnh Hình 1. Vị trí giải phẫu động mạch cảnh Nguồn: Siêu âm mạch máu [22] Động mạch cảnh chung phải là một trong hai nhánh tận của thân động mạch cánh tay đầu, chỗ xuất phát của mạch động cảnh chung ngay sau khớp ức đòn, nó hoàn toàn định vị ở vùng cổ trước. Động mạch cảnh chung trái xuất phát từ vị trí cao nhất của quai động mạch chủ.
Vị trí này gần nơi xuất phát của động mạch cánh tay đầu. Như thế, động mạch cảnh chung trái sẽ có 2 đoạn: Đoạn ở trong lồng ngực và đoàn ở trong cổ. Đoạn trong lồng ngực chạy theo hướng chếch từ trong ra ngoài và lên trên sang trái đễ chui vào nền cổ. Động mạch cảnh chung cả 2 bên cùng đi lên phía ngoài của thanh – khí quản, nhưng ở phía sau và trong của tỉnh mạch cảnh cùng bên, ở khoảng 1cm trên bờ trên của sụn giáp thì mỗi động mạch cảnh chung phân chia thành động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài.
Động mạch cảnh trong: 14 Động mạch cảnh trong được phân ra từ động mạch cảnh chung, cung cấp máu hầu hết cho tuần hoàn trước của bán cầu não. Tại vị trí phân chia của động mạch cảnh chung, đông mạch cảnh trong thường định vị ở phía bên – ngoài hoặc sau – ngoài so với động mạch cảnh ngoài trong gần 90% trường hợp, Hai động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài tạo nên góc phân kỳ, độ lớn của gốc này tùy thuộc vào tuổi và cơ địa của từng người. Với một số người trẻ, kiểu phân chia có hướng trước ngoài khiến động mạch cảnh trong chạy ra sát bề mặt da, dễ nhầm tưởng như phình mạch ngay dưới da khi sờ nắn. Đường kính của ĐMCa trong ở đoạn sau cổ hàm khoảng 4mm.
Riêng đoạn đầu của ĐMCa trong phình to, cùng với sự phát triển của cơ thể cho đến khi trưởng thành. Động mạch cảnh ngoài cùng với động mạch cảnh trong là 2 nhánh tận của động mạch cảnh chung, chúng tách ra ngay bờ trên sụn giáp, từ đây động mạch chạy lên trên hướng ra ngoài đi qua 2 vùng: vùng cổ với tam giác cảnh ((giới hạn 3 cạnh là cơ ức đòn chủm, bụng sau cơ 2 thân và cơ vai – móng) và vùng mang tai [22]. Bệnh lý động mạch cảnh 1. Dày Nội mạc • Chức năng nội mạc và cơ chế bệnh sinh Kể từ khi được phát hiện bằng kính hiển vi cho đến những năm đầu thập niên 1980, nội mạc mạch máu chỉ được xem như một hàng rào chắn giữa dòng máu và thành mạch.
Tuy nhiên, trong gần ba thập niên qua, đã có nhiều bằng chứng cho thấy nội mạc mạch máu không chỉ đơn thuần là một lớp hàng rào bao phủ bên trong lòng mạch, mà nó còn đóng vai trò chính trong việc điều hòa cấu trúc và trương lực mạch máu [65]. Về phương diện giải phẫu học, động mạch trong cơ thể người gồm 3 lớp: lớp ngoại mạc, lớp trung mạc và lớp nội mạc. 15 Nội mạc mạch máu được hình thành từ một lớp tế bào mỏng nằm trong lòng hệ thống mạch máu, nơi tiếp xúc trực tiếp với dòng máu. Ở người trưởng thành, nội mạc mạch máu gồm khoảng mười ngàn tỷ tế bào hình thành nên một tổ chức nặng khoảng 1kg [47].
Với những đặc tính đó, nội mạc mạch máu là một tuyến lớn nhất và quan trọng nhất của cơ thể. Nhiều nghiên cứu gần đây gợi ý rằng các thay đổi về chức năng nội mạc mạch máu có thể đóng vai trò chủ yếu trong sự phát triển và tiến triển của vữa xơ động mạch và các biến chứng lâm sàng của nó.