Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu túi phình động mạch não. Trên thế giới. Chẩn đoán túi phình động mạch não.
Năm 1775, Hunter đã mô tả chứng phình ĐMN và phình động – tĩnh mạch não. Cũng trong thời gian này, Giovani Morgagni đã chỉ ra nguyên nhân của CMDMN có thể là vỡ túi phình ĐMN. Tác giả Huntchinson đã mô tả triệu chứng của túi phình ĐMN đoạn trong xoang hang gồm đau đầu dữ dội kèm theo liệt các dây thần kinh sọ III, IV, VI và dây V1 vào năm 1875. Năm 1923, tác giả Harvey Cushing đã chỉ ra chứng phình ĐMN ở những BN trẻ tuổi bị đột quỵ một hoặc nhiều lần với những cơn đột quỵ xẩy ra khá bất ngờ.
Tác giả Symonds C phối hợp với Curshing để chẩn đoán xác định chứng phình mạch não có thể dựa trên các triệu chứng lâm sàng [1]. Năm 1927, Egas Moniz phát minh ra chụp ĐMN, vấn đề chẩn đoán và điều trị phẫu thuật các trường hợp phình mạch não mới được coi trọng và liên tục được phát triển, ngày càng hoàn thiện hơn. Năm 1968, đánh giá tình trạng của CMDMN được thống nhất sử dụng bảng kiểm của Hunt và Hess. Hội phẫu thuật thần kinh thế giới đưa ra bảng kiểm hoàn chỉnh hơn vào năm 1988 và sử dụng cho tới ngày nay, ưu điểm của bảng kiểm này còn có giá trị về mặt tiên lượng.
Điều trị túi phình động mạch cảnh trong đoạn trong sọ vỡ. Điều trị phẫu thuật. Năm 1885, Victor Horseley thực hiện thắt ĐM cảnh cùng bên để điều trị túi phình mạch não khổng lồ nền sọ đã được chẩn đoán xác định trong mổ, BN sống được 5 năm sau phẫu thuật [7] 4 Khoảng năm 1921, Zeller thực hiện thắt ĐMCT nhằm điều trị phình mạch não nhưng BN đã chết ngay sau đó. Cùng thời gian đó, Harvey Cushing nhận xét “phình mạch là một tổn thương có cổ” và ông đã mô tả việc sử dụng kẹp (clip) để kẹp cổ túi phình ĐMN [8].
Với mục tiêu làm giảm tỉ lệ tử vong, các phẫu thuật viên thần kinh đã đưa ra các phương pháp mới như thắt ĐM cảnh từng phần của William Halsted vào năm 1905 hay phương pháp ép ĐM cảnh trước mổ để đánh giá khả năng thích nghi của BN của Rudolph Matas. Phẫu thuật này đã đánh dấu bước ngoặt lớn cho phẫu thuật túi phình ĐMN hiện đại. Ông nhận xét rằng tất cả các phình ĐMN đều xuất phát từ chỗ chia nhánh của ĐM và luôn đi kèm tính yếu của thành mạch máu. Nếu túi phình gần với đa giác Willis, ông gợi ý nên thắt ĐMCT, và khi túi phình nằm xa đa giác Willis thì phẫu thuật mổ mở và sử dụng cơ để bọc [1].
Tuy nhiên đây chỉ là những chiến lược thụ động, có hạn chế nhất định do đó các nhà phẫu thuật thần kinh đề ra chiến thuật cô lập hoàn toàn túi phình khỏi dòng chảy mạch máu não trong khi vẫn duy trì đường kính của ĐM mang túi phình. Ngày 23 tháng 3 năm 1937, Walter Dandy thực hiện dùng clip bạc hình chữ V để kẹp cổ túi phình, bảo toàn ĐM mang túi phình tại vị trí ĐM Thông sau của BN 43 tuổi có biểu hiện lâm sàng trước mổ là liệt dây thần kinh III. Tác giả này cũng đã xuất bản quyển sách đầu tiên mô tả các phương pháp phẫu thuật phình ĐMN và nhấn mạnh với các nhà phẫu thuật thần kinh về “cái cổ nhỏ của túi phình là nơi tốt nhất để đặt dụng cụ loại bỏ túi phình ra khỏi vòng tuần hoàn não”[8]. Năm 1967, Dandy W và Janetta P.J đã báo cáo kỹ thuật thắt động mạch cảnh trong và ngoài sọ để điều trị chứng phình động mạch cảnh gần xoang tĩnh mạch hang, đồng thời nối tắt ĐMCT ngoài-trong sọ dưới kính hiển vi 5 quang học [7].
Một bước tiến mới cho phẫu thuật loại bỏ túi phình ĐMCT ĐTS khi tác giả Nutik S.L trình bày kỹ thuật cắt mỏm yên trước (1988) [9] và kỹ thuật mở vòng màng cứng (vòng Zin) nền sọ của Kobeyashi S (1989) [10] đã mang lại hiệu quả rất cao trong việc loại bỏ hoàn toàn túi phình ĐMCT ĐTS ra khỏi vòng tuần hoàn não, giảm tỉ lệ tử vong cũng như các biến chứng của vỡ túi phình gây ra. Điều trị nội mạch. Năm 1941, Werner và CS sử dụng nhiệt điện để gây huyết khối trong lòng túi phình đã vỡ thông qua dây dẫn bằng kim loại bạc, đường vào là chọc qua ổ mắt, làm nóng và làm ngừng chảy máu túi phình ĐMN [dẫn theo 11]. Luessenhop và Valasquez - những người tiên phong đặt ống thông vào ĐM nội sọ vào năm 1960, họ sử dụng một ống luồn và bơm trực tiếp chất Silastic vào mạch máu nội sọ để gây tắc túi phình.A sử dụng các ống thông gắn bóng Latex để lấp túi phình ĐMN hoặc làm tắc ĐM mang túi phình [12].
Năm 1991, Guido Guglielmi đã mô tả kỹ thuật tắc túi phình bằng vật liệu kim loại (VLKL) cắt bằng điện (GDCs- Guglielmi detachable coils), thông qua catheter siêu nhỏ (microcatheter) và được tách ra khỏi dây đẩy bằng dòng điện một chiều. Túi phình ĐMN được nhét đầy bằng một hoặc nhiều VLKL đến khi loại bỏ túi phình khỏi vòng tuần hoàn não. Năm 1997, Higashadi sử dụng giá đỡ nội mạch (Stent) đặt trong lòng động mạch mang túi phình, ngang qua cổ túi phình ĐMN để áp dụng điều trị cho các túi phình có cổ rất rộng, túi phình hình thoi hoặc qua đó lấp đầy túi phình bằng VXKL. Sau đó là sự ra đời của giá đỡ nội mạch mới (Silk Stent, Pipeline) năm 2007 có thể đặt trong lòng ĐM mạch mang túi phình làm thay đổi hướng dòng chảy và gây tắc túi phình mà không cần đặt VLKL.
Ngày nay có thêm các loại mới như Surpass, FRED (microvention). Khả năng can thiệp của các phương pháp nội mạch đều phải dựa trên giải phẫu của mạch não, vị trí túi phình, hình dáng và tỉ lệ đường kính túi và cổ túi phình. Tại Việt Nam. Từ năm 1999, Phạm Hòa Bình và cộng sự đã báo cáo phẫu thuật cho 7 trường hợp túi phình ĐMN vỡ tại hội nghị Ngoại khoa lần thứ X cho kết quả tốt 4 trường hợp, 2 bệnh nhân tử vong và 1 tàn phế.
Năm 2004 Nguyễn Thế Hào, Lê Hồng Nhân đã có nghiên cứu điều trị túi phình mạch não đã vỡ tại bệnh viện Việt Đức và có kết quả sau phẫu thuật rất khả quan. Đến 2006, Nguyễn Thế Hào đã báo cáo 4 trường hợp túi phình động mạch cảnh trong ở cạnh mỏm yên trước được phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức Hà Nội. Năm 2008, Trần Anh Tuấn nghiên cứu về giá trị của phương pháp CLVT 64 dẫy so với chụp DSA trong chẩn đoán túi phình ĐMN và cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu, độ chính xác lần lượt là 94,5%, 97,6% và 95,5% [4]. 2001, Phạm Minh thông và cộng sự đã công bố 28 trường hợp được điều trị can thiệp mạch và bước đầu cho kết quả 92,8% hết túi phình khi được nút trực tiếp bằng VXKL.
Nguyễn Sơn đã báo cáo điều trị vi phẫu thuật túi phình ĐMN trên lều đã vỡ cho 143 trường hợp tại bệnh viện Chợ Rẫy vào năm 2010: 87,4% bệnh nhân có kết quả tốt, 7,5% kết quả trung bình và 5,1% bệnh nhân có kết quả xấu sau mổ. Năm 2012, Nguyễn Minh Anh có nghiên cứu chẩn đoán và điều trị túi phình ĐMCT đoạn mấu giường trước bằng vi phẫu thuật có những kết quả rất tốt 84,1%, trong đó tỉ lệ tử vong do nguyên nhân phẫu thuật là 6,8% chủ yếu xẩy ra ở nhóm túi phình ĐMN cổ rộng, túi phình khổng lồ [13]. Giải phẫu động mạch cảnh trong đoạn trong sọ và ứng dụng liên quan trên lâm sàng. Giải phẫu động mạch cảnh trong đoạn trong sọ.
ĐMCT xuất phát từ vị trí phân đôi của ĐM cảnh chung tại máng cảnh, ngang bờ trên sụn giáp, đi lên và chui vào ống cảnh trong phần đá xương thái dương. Đoạn này ĐM đi lên khoảng 1cm, sau đó quặt vào trước trong và đi tới đỉnh xương đá rồi chui qua xoang tĩnh mạch hang. Đoạn ĐMCT ĐTS có dáng chữ S và được phân làm 5 đoạn từ dưới lên theo thứ tự [14],[16],[17]. 7 C5: từ chỗ thoát ra khỏi đỉnh xương đá cho tới gối sau.
ĐMCT chạy dọc mặt ngoài thân xương bướm. C4: đoạn giữa phần hướng lên cho tới bắt đầu đi ngang. ĐMCT đi bên ngoài yên bướm dọc theo thành bên xương bướm. C3: đoạn nằm ngang trong xoang hang, từ gối trước đến gối sau.
ĐMCT đi dưới chân của mấu giường trước. C2: đoạn gối trước từ phần ngang cho đến hết phần còn lại nằm trong màng cứng. ĐMCT ĐTS đi dưới dây thần kinh thị. C1: đoạn ĐMCT đi trong khoang dưới nhện.
Từ đây sẽ tách ra thành hai nhánh tận là ĐM Não trước và ĐM Não giữa. Túi phình ĐMCT ĐTS ở tại vị trí này gọi là túi phình ngã ba ĐMCT. Các đoạn C3, C4, C5 tạo thành phần dưới mấu giường. Đoạn C1, C2, tạo thành phần trên mấu giường.
Các đoạn C2, C3, C4 tạo thành Siphon ĐMCT. Trên lâm sàng đoạn ĐMCT ĐTS bắt đầu từ mỏm yên trước tới ngã ba ĐMCT. Đoạn này ĐMCT ĐTS dài 1,6 – 1,9 cm, kích thước 0,5 - 0,6 cm, ĐMCT chạy chếch ra ngoài và ra sau một góc 108- 1100 , lưu lượng máu qua là 300 ml/p [18],[19],[20]. ĐMCT ĐTS cho các nhánh bên: + Những ĐM xuyên nhỏ: cấp máu cho dây TK thị giác, giao thoa thị giác, cuống tuyến yên, củ núm vú, dải thị giác và sàn não thất III.1 Phân đoạn của động mạch cảnh trong theo Gibo H và cộng sự [21] 8 + ĐM Mắt và ĐM Yên trên: tách ra ngay khi ĐMCT chui ra khỏi màng cứng và chạy trong ống thị giác.
ĐMCT ĐTS dài 0,7- 1,2cm, đường kính trung bình là 0,4cm [18],[20]. Các túi phình ở vị trí này có thể gây giảm thị lực do chèn ép dây TK II, khuyết thị trường. Cổ túi phình thường bị mỏm yên trước che khuất, đây vị trí khó khăn trong phẫu thuật kẹp cổ túi phình [13],[19]. + ĐM Thông sau: xuất phát từ phía sau trong mỏm yên chạy ra sau, có đường kính trung bình 0,3c.
Đi trên dây TK III, nối với ĐM não sau tạo thành cạnh bên của đa giác Willis. Túi phình vị trí này có thể biểu hiện trên lâm sàng bằng triệu chứng giãn đồng tử và sụp mi do chèn ép dây TK III [19],[23],[24]. + ĐM Mạch mạc trước: (đôi khi ĐM này xuất phát từ ĐM não giữa) chạy ra sau, dưới dải thị giác, sau đó chạy ra ngoài đến cuống não và thể gối ngoài. ĐM mạch mạc trước đi trên ĐM thông sau và tận hết ở đám rối mạch mạc ở sừng thái dương não thất bên.