Vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim bằng kỹ thuật SPECT CT trong đánh giá tính sống còn

Khám phá vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim bằng kỹ thuật SPECT CT trong đánh giá tính sống còn của cơ tim. Thông tin chi tiết và hữu ích.

Chuyên ngành

Nội – Tim Mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ ANH VIỆT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

1. MỞ ĐẦU

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. BÀN LUẬN

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

PHIẾU THU THẬP DỮ LIỆU

MẪU CHẤP THUẬN TỰ NGUYỆN THAM GIA NGHIÊN CỨU

BẢN CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ NGHIÊN CỨU

ĐIỀU TRỊ SUY TIM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đánh giá tính sống còn cơ tim

Khái niệm tính sống còn cơ tim là nền tảng cho các phương pháp điều trị tái tưới máu, áp dụng cho cả trường hợp nhồi máu cơ tim cấp tính và thiếu máu cục bộ mạn tính gây rối loạn chức năng thất trái. Việc xác định vùng mô cơ tim còn sống có ý nghĩa quan trọng vì hồi phục dòng máu đến vùng này có thể cải thiện chức năng co bóp cơ tim và phân suất tống máu thất trái, từ đó cải thiện tiên lượng bệnh.

1.1. Cơ tim choáng váng

Cơ tim choáng váng là hiện tượng rối loạn chức năng cơ tim kéo dài nhưng có khả năng hồi phục hoàn toàn sau khi được tái tưới máu. Hiện tượng này xảy ra do thiếu máu cục bộ tạm thời, gây tổn thương tế bào cơ tim và ức chế chức năng co bóp. Cơ tim choáng váng thường gặp trong các trường hợp tăng nhu cầu cơ tim, giảm cung cấp máu mạch vành hoặc sau tái thông mạch vành thành công.

1.2. Cơ tim ngủ đông

Cơ tim ngủ đông là tình trạng sụt giảm chức năng co bóp cơ tim kéo dài do giảm tưới máu mạn tính. Điểm khác biệt của cơ tim ngủ đông so với cơ tim choáng váng là khả năng phục hồi chức năng co bóp sau khi được tái tưới máu đầy đủ. Xạ hình tưới máu cơ tim bằng kỹ thuật SPECT CT đóng vai trò quan trọng trong việc phân biệt cơ tim ngủ đông với tình trạng sẹo cơ tim không hồi phục.

II. Xạ hình tưới máu cơ tim bằng kỹ thuật SPECT CT

Xạ hình tưới máu cơ tim (XHTMCT) là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sử dụng chất phóng xạ để đánh giá lưu lượng máu đến cơ tim. SPECT CT là kỹ thuật kết hợp giữa SPECT và CT, mang lại hình ảnh tưới máu cơ tim chi tiết và chính xác hơn. SPECT CT giúp phân biệt vùng cơ tim thiếu máu, sẹo cơ tim và cơ tim bình thường.

2.1. Ưu điểm của SPECT CT

SPECT CT có nhiều ưu điểm so với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác như siêu âm tim, MRI tim, trong đó nổi bật là khả năng định lượng mức độ thiếu máu cơ tim, độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán bệnh mạch vành, không xâm lấn và chi phí thấp hơn so với PET CT.

2.2. Quy trình SPECT CT

Quy trình SPECT CT bao gồm các bước: chuẩn bị bệnh nhân, tiêm chất phóng xạ, chụp SPECT, chụp CTphân tích hình ảnh. Bệnh nhân cần được nhịn ăn trước khi thực hiện SPECT CT. Sau khi tiêm chất phóng xạ, bệnh nhân sẽ được chụp SPECT ở tư thế nằm ngửa. Tiếp theo, bệnh nhân sẽ được chụp CT để tạo hình ảnh giải phẫu tim. Cuối cùng, các bác sĩ sẽ phân tích hình ảnh để đánh giá tưới máu cơ tim.

2.3. Kết quả SPECT CT

Kết quả SPECT CT được thể hiện dưới dạng hình ảnh tưới máu cơ tim ở cả thì nghỉ và thì gắng sức. Dựa vào kết quả SPECT CT, bác sĩ có thể đánh giá tính sống còn cơ tim, từ đó đưa ra hướng điều trị phù hợp cho bệnh nhân.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) ảnh hưởng trên 110 triệu người trên toàn thế giới và đã gia tăng 73,3% từ năm 1990 đến 2015 [26], với số bệnh nhân mới mắc mỗi năm đến 5,7 triệu ca [70]. Thêm vào đó, bệnh này tạo ra gánh nặng đáng kể lên nguồn lực và chi phí chăm sóc y tế, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và gia tăng chi phí an sinh xã hội [70], [120]. Theo hội tim châu Âu (ESC) và hội phẫu thuật lồng ngực - tim châu Âu (EACTS) khuyến cáo việc phát hiện vùng cơ tim sống còn là một phần trong tiến trình chẩn đoán để quyết định điều trị tái tưới máu mạch vành, và những bệnh nhân không có bằng chứng cho tính sống còn cơ tim không nên được thực hiện điều trị tái tưới máu [133]. Để xem xét bằng chứng cho vùng cơ tim nhiều tiềm năng còn sống, đã có nhiều phương pháp chẩn đoán hình ảnh cả xâm lấn lẫn không xâm lấn được phát triển như chụp cắt lớp vi tính (CT) tim, xạ hình tim, siêu âm tim với dobutamine và cộng hưởng từ (MRI) tim đã được nghiên cứu toàn diện với nỗ lực nhằm xác định được biện pháp tốt nhất để nghiên cứu cơ tim [48].

Trong đó, đánh giá tưới máu cơ tim trên xạ hình cắt lớp đơn photon (SPECT) hoặc xạ hình cắt lớp đơn photon kết hợp với CT (SPECT-CT) là những phương pháp phổ biến đang được sử dụng do có nhiều ưu điểm như độ nhạy cao, tính hiệu quả và chi phí thấp hơn so với xạ hình cắt lớp positron (PET) hoặc xạ hình cắt lớp positron kết hợp với CT (PET-CT). Các phương pháp xạ hình thường được sử dụng trong hướng dẫn quyết định điều trị khi cần xác định đối tượng bệnh nhân được hưởng lợi từ chụp mạch vành và tái tưới máu mạch vành [61]. Việc quyết định những bệnh nhân có thiếu máu cơ tim cần được điều trị tái tưới máu mạch vành đặc biệt quan trọng [45] vì hiệu quả lâu dài của điều trị tái tưới máu mạch vành, nên được cân nhắc cẩn trọng với những nguy cơ của các biện pháp điều trị xâm lấn này [125], [126]. 2 Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim (XHTMCT) bằng kỹ thuật SPECT-CT trong việc xác định tính sống còn cơ tim và hướng dẫn chiến lược điều trị ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ.

Dữ liệu hình ảnh CT trong kỹ thuật xạ hình SPECT giúp hiệu chỉnh tia bức xạ gamma từ các đồng vị phóng xạ giúp giảm thiểu hình ảnh âm tính giả ở các tổn thương thiếu máu cơ tim như ở thành bên và thành dưới. Xạ hình SPECT-CT cho độ chính xác cao trong chẩn đoán bệnh mạch vành và cung cấp những dữ liệu tiên lượng quan trọng ở bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ bệnh tim thiếu máu cục bộ [40], [60]. Hơn nữa, phương pháp này cũng có lợi là không xâm lấn và thường sẵn có ở các trung tâm tim mạch lớn. Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về XHTMCT bằng kỹ thuật SPECT trên bệnh nhân bệnh mạch vành mà chủ yếu đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của kỹ thuật hoặc đánh giá biến đổi hình ảnh XHTMCT trước và sau tái tưới máu động mạch vành.

Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu về vai trò của XHTMCT bằng kỹ thuật SPECT/CT trong đánh giá sống còn cơ tim, nhằm định hướng chọn lựa và đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị ở bệnh nhân BTTMCB. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Vai trò của xạ hình tưới máu cơ tim SPECT-CT trong đánh giá tính sống còn cơ tim” với các mục tiêu sau: Mục tiêu chuyên biệt: 1. Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân có sống còn cơ tim ở vùng thiếu máu trên hình ảnh xạ hình tưới máu cơ tim bằng kĩ thuật SPECT – CT (%SDS  10%). Xác định giá trị của đánh giá tính sống còn cơ tim ở vùng thiếu máu dựa trên SPECT-CT trên điều trị can thiệp mạch vành.

Bệnh tim thiếu máu cục bộ 1. Sinh lý bệnh Cơ tim hoạt động nhờ năng lượng tạo ra chủ yếu từ quá trình chuyển hóa hiếu khí. Ngay cả khi ở trạng thái nghỉ ngơi, tế bào cơ tim cũng đã chiết xuất từ 70 – 80% oxy từ máu động mạch vành. Do vậy khi gắng sức, cơ tim khó có thể chiết xuất thêm oxy và để đáp ứng tình trạng tăng nhu cầu này thì chỉ còn một cách duy nhất là phải làm tăng lưu lượng động mạch vành.

Ở người, lưu lượng động mạch vành cần thiết cho:  Trạng thái hoạt động căn bản là 60 - 90ml/phút/100g cơ tim.  Khi làm giảm rõ hoạt động cơ học và nhu cầu chuyển hóa (như trong trường hợp hạ thân nhiệt với rung thất hoặc vô tâm thu, sử dụng các dẫn xuất nitơ để làm giảm tiền tải và hậu tải, hoặc dùng chất chẹn thụ thể  làm giảm tần số tim và co bóp cơ tim): thì chỉ cần khoảng 10- 20ml/phút/100g cơ tim hoặc thậm chí có thể ngưng hoàn toàn tình trạng tưới máu trong vòng 100 phút mà vẫn duy trì được sự sống của tế bào cơ tim. Do chưa có một phương pháp nào có hiệu quả trên lâm sàng để xác định lưu lượng mạch vành, vì vậy tình trạng thiếu máu cơ tim cục bộ được nhận biết bằng các hậu quả của nó (đau ngực, thay đổi điện tâm đồ và chuyển hóa, giảm chức năng tâm trương và tâm thu của cơ tim…). Tuy nhiên, triệu chứng không có, cũng chưa thể loại trừ được bệnh này.

Ví dụ hiện nay tại Hoa Kỳ có 2 – 4% nam giới ở tuổi trung niên bị bệnh tim thiếu máu cục bộ nhưng không có triệu chứng lâm sàng, và tình trạng này được gọi là “thiếu máu cơ tim im lặng”. Mô cơ tim bị thiếu máu biểu hiện tối thiểu 3 bất thường về sinh lý: 4  Tình trạng giảm oxy ở mô, không đủ để cung cấp cho chuyển hóa hiếu khí.  Tích tụ độc chất hậu quả của chuyển hóa yếm khí.  Sự xuất hiện của toan máu (hoặc sự tích tụ H+ được tạo ra bởi các phản ứng dị hóa khi không có đầy đủ các chất kết hợp với electron).

Ảnh hưởng của thiếu máu cục bộ đối với quá trình chuyển hóa trong tế bào cơ tim Hoạt động bình thường của tế bào cơ tim dựa chủ yếu vào sự cung cấp các phức hợp phosphate giàu năng lượng được tạo ra từ Adenosine Diphosphate (ADP) tại ty lạp thể như quá trình phosphoryl oxy hóa. Khi có giảm oxy tại tế bào, quá trình phosphoryl oxy hóa bị ức chế và khả năng dự trữ ATP trong tế bào giảm (tế bào chỉ có khả năng tạo một lượng ATP rất ít) đưa đến sự tích tụ các chất chuyển hóa có tác dụng ức chế trên quá trình tạo năng lượng trong điều kiện yếm khí. Tế bào cơ tim được tưới máu bình thường chủ yếu sử dụng năng lượng từ sự oxy hóa các acid béo để duy trì hoạt động co bóp cơ tim và năng lượng dùng để điều hòa hoạt động màng tế bào được cung cấp từ sự chuyển hóa yếm khí của glucose. Ngược lại, khả năng oxy hóa các acid béo của tế bào cơ tim thiếu máu cục bộ bị giảm nặng nề do đây là quá trình chuyển hóa ái khí, các acid béo sẽ được ester hóa để tạo triglycerid và phospholipide.

Lúc này tế bào sẽ tạo năng lượng chủ yếu từ việc chuyển hóa glucose yếm khí, và đưa đến hậu quả:  Hoạt động co bóp cơ tim sẽ ngưng rất nhanh do thiếu ATP.  Năng lượng hiếm hoi sẽ được sử dụng để duy trì hoạt động màng tế bào, khi hoạt động này bị chấm dứt thì cũng là dấu hiệu của sự chết tế bào. 5 Để hiểu rõ sự thay đổi về chuyển hóa, ta khảo sát chi tiết các đường chuyển hóa của từng chất trong tế bào cơ tim ở hai trạng thái: tưới máu bình thường và thiếu máu cục bộ. Hậu quả của thiếu máu cục bộ trên hoạt động cơ tim 1.

Hoạt động điện học Cơ tim bình thường và mô cơ tim thiếu máu cục bộ có sự khác biệt rõ rệt về tính chất điện học. Ở giai đoạn sớm có tình trạng giảm của:  Điện thế nghỉ màng tế bào  Biên độ, tốc độ và thời gian hoạt động điện học của tế bào Giai đoạn muộn hơn:  Hoạt động điện của tế bào có khuynh hướng kéo dài  Xuất hiện thời kỳ trơ sau khử cực, và thời gian này kéo dài hơn cả giai đoạn tái cực hoàn toàn.  Thời gian khử cực bất thường và sự không đồng nhất về thời gian khử cực của vùng thiếu máu so với vùng cơ tim bình thường làm xuất hiện tình trạng block một chiều tại vùng thiếu máu và đó là nguyên nhân gây rối loạn nhịp do cơ chế vào lại. Ảnh hưởng trên huyết động  Hậu quả trên chức năng tâm thu Tình trạng giảm oxy mô làm cho quá trình chuyển hóa tại tế bào được thực hiện trong hoàn cảnh yếm khí và hậu quả là không cung cấp đủ các hợp chất phosphate giàu năng lượng cần thiết cho hoạt động co bóp cơ tim.

Bởi vì quả tim hầu như không có những nguồn dự trữ oxygen để bù đắp tình trạng thiếu hụt chất này ở giai đoạn rất sớm của thiếu máu cục bộ, hơn nữa các vùng cơ tim không bị nhồi máu, sau khi được tái tưới máu lại có 6 tình trạng tiêu thụ oxy có thể trên cả mức bình thường (trong khi khả năng tạo ATP chỉ ở mức vừa phải) và gây ra sự bất thường trong hoạt động co bóp. Có 4 dạng co bóp bất thường của cơ tim:  Không đồng bộ: sự co bóp không phối hợp giữa các vùng cơ tim khác nhau.  Giảm động: giảm khả năng co ngắn của một vùng cơ tim  Vô động: hoàn toàn không co ngắn của một vùng cơ tim  Loạn động: dãn (phình) nghịch thường của một vùng cơ tim Cùng với tình trạng rối loạn vận động của vùng cơ tim bị thiếu máu (hoặc nhồi máu) thì các vùng cơ tim bình thường lại có tình trạng tăng động, có thể là do cơ chế bù trừ trong giai đoạn cấp (hậu quả của tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm và do cơ chế Frank-Starling). Nếu vùng cơ tim bị tổn thương rộng thì các rối loạn vận động có thể gây giảm cung lượng tim, lưu lượng tim, phân suất tống máu, trong khi đó áp lực và thể tích tâm thất cuối kỳ tâm trương lại tăng.

Khi vùng rối loạn vận động chiếnm 20-25% thất trái sẽ gây suy thất trái.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá tính sống còn cơ tim qua xạ hình tưới máu bằng kỹ thuật SPECT CT" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp đánh giá sức khỏe tim mạch thông qua xạ hình tưới máu. Kỹ thuật SPECT CT không chỉ giúp xác định tình trạng tưới máu của cơ tim mà còn hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tim mạch. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm các vấn đề về tim, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về các phương pháp hiện đại trong y học.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các thiết bị y tế và công nghệ liên quan, hãy tham khảo bài viết "Đồ án hcmute thiết kế và thi công thiết bị đo nhiệt độ nhịp tim và nồng độ oxy trong máu" để tìm hiểu về các thiết bị đo lường sức khỏe. Ngoài ra, bài viết "Hcmute thiết kế và thi công hệ thống thu thập tín hiệu điện tim ecg có hiển thị tín hiệu qua smart phone" sẽ giúp bạn khám phá cách công nghệ hiện đại hỗ trợ trong việc theo dõi sức khỏe tim mạch. Cuối cùng, bài viết "Đồ án hcmute thiết kế và thi công thiết bị tuyệt trùng dụng cụ y tế sử dụng năng lượng mặt trời" sẽ mang đến cho bạn cái nhìn về các giải pháp bền vững trong lĩnh vực y tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các công nghệ và thiết bị hỗ trợ trong chăm sóc sức khỏe tim mạch.