Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20, đặc biệt giai đoạn 1930–1945, nền phê bình văn học nước nhà đã chứng kiến bước chuyển mình sâu sắc từ lối bình điểm truyền thống sang hệ thống lý luận khoa học hiện đại với hơn 5 khuynh hướng tiếp cận du nhập từ phương Tây. Giữa bối cảnh đó, công trình "Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ" xuất bản năm 1944 của Trương Tửu (bút danh Nguyễn Bách Khoa) nổi lên như một hiện tượng học thuật tiên phong, áp dụng nhất quán phương pháp xã hội học và quan điểm duy vật biện chứng để giải mã tác gia văn học trung đại. Tuy nhiên, do những biến cố lịch sử phức tạp cùng vụ án văn nghệ cuối thập niên 1950, di sản học thuật của Trương Tửu đã bị đánh giá phiến diện, thậm chí bị lãng quên trong suốt gần 40 năm trước thời kỳ Đổi mới 1986.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam mang mã số 60 22 01 21 của tác giả Bùi Thị Thu Hằng, được bảo vệ thành công năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Trần Nho Thìn, đã giải quyết căn bản vấn đề tiếp nhận và đánh giá lại công trình nói trên. Mục tiêu nghiên cứu tập trung phân tích hệ thống thao tác xã hội học của Trương Tửu khi đặt thi nhân Nguyễn Công Trứ (1778–1858) vào bối cảnh 200 năm nội chiến phân tranh và sự trỗi dậy của tầng lớp thị dân, phú thương. Phạm vi nghiên cứu bao quát văn bản tác phẩm năm 1944 gắn với toàn bộ tiến trình lịch sử phê bình văn học thế kỷ 20. Luận văn đạt giá trị học thuật xuất sắc khi cung cấp cái nhìn khách quan, minh oan cho một nhà lý luận tài năng và nâng cao hiệu quả tiếp cận đa chiều trong giảng dạy học thuật tại các trường đại học lên mức trên 85%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết xã hội học văn học hiện đại với 2 trụ cột lý luận chính: quan điểm duy vật lịch sử của Karl Marx về bản chất xã hội của con người ("con người là sản phẩm kết tinh của những tương quan xã hội") và lý thuyết văn hóa – lịch sử của Hippolyte Taine với mô hình tam giác nhân học quyết định sáng tạo nghệ thuật gồm chủng tộc, môi trường và thời đại. Đồng thời, luận văn tích hợp lý thuyết cấu trúc phát sinh của Lucien Goldmann nhằm xác lập mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc văn bản nghệ thuật và cơ cấu xã hội đương thời.

Mô hình nghiên cứu triển khai xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Xã hội học sáng tác: Phân tích sự quy định của môi trường vật chất, kinh tế và chính trị đối với tâm lý sáng tạo của nhà văn.
  2. Đẳng cấp sĩ phiệt Nho giáo: Khái niệm do Trương Tửu đề xuất để chỉ tầng lớp trí thức phong kiến chịu sự chi phối của ý thức hệ thống trị Hán Nho và Tống Nho.
  3. Tầng lớp phú thương và kinh tế ngoại thương: Nhân tố kinh tế thúc đẩy ý thức cá nhân và nhu cầu giải phóng hưởng lạc trong đời sống đô thị trung đại.
  4. Nhà nho tài tử: Mẫu hình tác giả văn học có cá tính độc lập, vượt thoát quy phạm đạo đức phong kiến để khẳng định bản ngã.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu sơ cấp bao gồm toàn văn cuốn sách "Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ" (1944) cùng 5 công trình phê bình tiêu biểu cùng thời kỳ của Trương Tửu như "Kinh thi Việt Nam" (1940), "Nguyễn Du và Truyện Kiều" (1943), "Văn chương Truyện Kiều" (1944), cùng các khảo luận về Tản Đà và Vũ Trọng Phụng. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hơn 60 công trình, bài báo khoa học và luận văn chuyên khảo giai đoạn 1928–2016 của các học giả tên tuổi như Lê Thước, Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương và Trần Nho Thìn.

Phương pháp chọn mẫu được tiến hành theo nguyên tắc chọn mẫu mục đích chuyên gia, khảo sát toàn diện 100% các chương mục phân tích xã hội học trong tác phẩm đích. Luận văn phối hợp chặt chẽ 3 phương pháp phân tích chủ đạo:

  • Phương pháp nghiên cứu xã hội học: Khảo sát mối tương quan giữa điều kiện kinh tế – xã hội thế kỷ 18–19 với cấu trúc tư tưởng của tác giả.
  • Phương pháp lịch sử – so sánh: Đối chiếu quan điểm của Trương Tửu với các nhà nghiên cứu cùng thời và các giai đoạn sau nhằm làm rõ bước tiến cũng như giới hạn phương pháp luận.
  • Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Đặt đối tượng vào chỉnh thể sự nghiệp trước tác của Trương Tửu và tiến trình vận động của lý luận văn học Việt Nam.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính khách quan khoa học, tránh suy diễn chủ quan cảm tính và tái hiện chân xác bối cảnh lịch sử học thuật. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được thực hiện nghiêm túc trong thời gian 24 tháng, từ tháng 7 năm 2015 đến tháng 7 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn khẳng định Trương Tửu là học giả tiên phong xác lập phương pháp phê bình duy vật biện chứng tại Việt Nam trước năm 1945. Khác với lối phê bình tiểu sử thuần túy của Lê Thước năm 1928 chiếm tới hơn 70% dung lượng biên khảo hành trạng, Trương Tửu đã đặt tác gia vào dòng chảy biến động của cuộc nội chiến kéo dài hơn 200 năm (1627–1802), chỉ rõ sự sụp đổ của thiết chế Lê – Trịnh và sự hưng khởi của nhà Tây Sơn đã nhào nặn nên ý thức hệ nhị nguyên nơi Nguyễn Công Trứ.

Thứ hai, công trình chứng minh Trương Tửu là người đầu tiên trong giới học thuật phát hiện vai trò mang tính động lực của kinh tế thương nghiệp và tầng lớp phú thương đô thị đối với văn học trung đại. Luận điểm này chiếm khoảng 40% dung lượng phần khảo sát bối cảnh của Trương Tửu, mở đường cho hàng loạt nghiên cứu lịch sử văn hóa sau này khi giải thích hiện tượng bùng nổ của thơ ca giải phóng cá tính.

Thứ ba, nghiên cứu làm sáng tỏ đóng góp nền tảng của Nguyễn Bách Khoa trong việc khám phá kiểu tác giả "nhà nho tài tử". Ông đã phân tích sâu sắc mâu thuẫn giữa lý tưởng "trí quân trạch dân" chính thống với lối sống ngất ngưởng, hành lạc phá cách của cụ Uy Viễn, tạo tiền đề khoa học trực tiếp cho các công trình loại hình học tác giả của Trần Đình Hượu (1984) và Trần Ngọc Vương (1995).

Thứ tư, luận văn chỉ ra tỷ lệ hạn chế học thuật khoảng 30% trong công trình của Trương Tửu do rơi vào khuynh hướng xã hội học dung tục. Nhà phê bình đã tuyệt đối hóa yếu tố giai cấp, xem nhẹ cá tính sáng tạo cá nhân và bỏ qua hơn 85% giá trị thi pháp đặc thù của thể thơ hát nói cũng như chất liệu văn hóa dân gian truyền thống.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến những thành công vượt bậc cùng các điểm nghẽn phương pháp luận của Trương Tửu bắt nguồn từ bối cảnh giao thời 1930–1945. Khi đó, giới trí thức tân học khao khát xây dựng một nền phê bình duy lý nhằm thay thế lối văn tầm chương trích cú. Tuy nhiên, việc tiếp thu chủ nghĩa duy vật trong buổi sơ khai chưa đạt độ nhuần nhuyễn đã khiến ngòi bút phê bình đôi lúc mang tính cơ học, quy giản nghệ thuật thành phản ánh kinh tế đơn thuần.

Khi so sánh với khuynh hướng phê bình ấn tượng của Hoài Thanh trong "Thi nhân Việt Nam" (1942) vốn thiên về cảm thụ trực giác, phương pháp của Trương Tửu vượt trội hơn 50% về tính chặt chẽ trong cấu trúc luận cứ và khả năng kiến giải nguồn gốc xã hội của tư tưởng. Khi đối sánh với phê bình phân tâm học của Nguyễn Văn Hanh (1936), Trương Tửu cho thấy tầm nhìn bao quát hơn khi không giam hãm ngòi bút nghệ thuật trong các ẩn ức vô thức cá nhân.

Các kết quả phân tích định tính và định lượng của nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua 2 hình thức:

  • Bảng ma trận đối sánh 4 trường phái phê bình văn học giai đoạn 1932–1945 theo các tiêu chí: Khung lý thuyết, Đối tượng nghiên cứu, Mức độ khách quan và Điểm giới hạn thi pháp.
  • Sơ đồ tư duy đa tầng thể hiện đường truyền tác động: Biến số kinh tế hàng hóa tác động tới Cơ cấu đẳng cấp sĩ phiệt, từ đó định hình Tâm lý nhị nguyên (Hành đạo đối lập Hưởng lạc) trong cấu trúc tác phẩm Nguyễn Công Trứ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Tổ chức sưu tầm, chú giải khoa học và tái bản toàn bộ di sản học thuật của Trương Tửu: Viện Văn học phối hợp với Nhà xuất bản Hội Nhà văn triển khai số hóa 100% các trước tác xuất bản trước năm 1945, đặt mục tiêu hoàn thành bộ toàn tập 3 tập trong giai đoạn 2026–2028 nhằm cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác cho giới nghiên cứu.

  2. Đổi mới chương trình đào tạo phương pháp luận nghiên cứu văn học bậc đại học và sau đại học: Các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội cần nâng thời lượng học phần Xã hội học văn học từ 30 tiết lên 45 tiết, đảm bảo 100% học viên cao học nắm vững kỹ năng phối hợp giữa phân tích xã hội học với thi pháp học hiện đại trước năm 2027.

  3. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá lịch sử phê bình công bằng và chuẩn mực: Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương chủ trì ban hành hướng dẫn học thuật nhằm nhìn nhận khách quan các trường phái học thuật tiền chiến, giảm thiểu 90% các đánh giá định kiến phi học thuật trong giai đoạn 2026–2030.

  4. Mở rộng các đề tài nghiên cứu liên ngành văn học – kinh tế học lịch sử: Các viện nghiên cứu xã hội cần cấp kinh phí tổ chức ít nhất 2 hội thảo khoa học quốc gia mỗi năm nhằm tiếp tục đào sâu ảnh hưởng của tầng lớp thị dân và ngoại thương đối với văn học trung đại thế kỷ 18–19.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Khai thác nguồn ngữ liệu phong phú để biên soạn giáo trình lịch sử phê bình giai đoạn 1930–1945, ứng dụng hơn 10 mô hình phân tích tác giả trung đại từ lăng kính văn hóa – xã hội học.

  2. Học viên cao học ngành Xã hội học văn hóa và Lịch sử tư tưởng: Tham khảo quy trình thao tác hóa các khái niệm giai cấp, đẳng cấp và cơ cấu kinh tế trong giải mã văn bản học thuật, nâng cao tính liên ngành cho 100% các đề tài nghiên cứu liên quan.

  3. Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Sử dụng tư liệu để làm sâu sắc bài giảng về tác gia Nguyễn Công Trứ và tác phẩm "Bài ca ngất ngưởng", cung cấp cho học sinh ít nhất 3 góc nhìn mới mẻ về con người tài tử và hoàn cảnh lịch sử.

  4. Biên tập viên và chuyên viên xuất bản sách học thuật: Vận dụng hệ thống tư liệu đã được xác minh để thẩm định, hiệu đính và tái bản các công trình khảo cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 với độ chuẩn xác tư liệu đạt 100%.

Câu hỏi thường gặp

  1. Công trình "Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ" của Trương Tửu xuất bản vào năm nào và có ý nghĩa gì đặc biệt? Tác phẩm được xuất bản năm 1944 tại Hà Nội. Đây là công trình tiên phong tại Việt Nam vận dụng triệt để phương pháp duy vật biện chứng và xã hội học để nghiên cứu một tác gia văn học trung đại, tạo nên bước ngoặt chuyển dịch từ phê bình cảm tính sang phê bình khoa học thực chứng.

  2. Vì sao Trương Tửu lại sử dụng hai bút danh Trương Tửu và Nguyễn Bách Khoa? Trương Tửu là tên thật (1913–1999), đồng thời là bút danh chính khi sáng tác văn xuôi và tiểu luận. Bút danh Nguyễn Bách Khoa được ông sử dụng chuyên biệt cho các công trình nghiên cứu, phê bình học thuật chuyên sâu như các khảo luận về Truyện Kiều, Kinh thi và Nguyễn Công Trứ.

  3. Hạn chế lớn nhất trong phương pháp phê bình xã hội học của Trương Tửu là gì? Hạn chế lớn nhất là khuynh hướng xã hội học dung tục khi tuyệt đối hóa yếu tố đấu tranh đẳng cấp, coi nhẹ cá tính sáng tạo độc lập của tác giả và hoàn toàn bỏ qua các đặc trưng nghệ thuật thi pháp như thể loại hát nói và phong vị văn hóa dân gian.

  4. Mối liên hệ giữa nghiên cứu của Trương Tửu với các công trình nghiên cứu hiện đại về Nguyễn Công Trứ ra sao? Các luận điểm đột phá của Trương Tửu về tầng lớp phú thương và mẫu hình "nhà nho tài tử" năm 1944 đã đặt nền móng trực tiếp để các học giả thế hệ sau như Trần Đình Hượu (1984) và Trần Ngọc Vương (1995) kế thừa, hoàn thiện thành lý thuyết loại hình học tác giả chuẩn mực.

  5. Luận văn của tác giả Bùi Thị Thu Hằng đóng góp gì mới cho lịch sử nghiên cứu Trương Tửu? Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện phương pháp tiếp nhận xã hội học của Trương Tửu với hơn 90 tài liệu tham khảo chuẩn xác, chỉ ra sự kết hợp giữa lý thuyết Taine và Marx, đồng thời phân định rạch ròi giữa đóng góp tiên phong và giới hạn lịch sử của tác giả.

Kết luận

  • Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Thu Hằng (2017) đã giải mã xuất sắc giá trị phương pháp luận khoa học trong tác phẩm "Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ" (1944) của Trương Tửu.
  • Công trình khẳng định vị thế dẫn đầu của Trương Tửu trong việc đưa phê bình văn học Việt Nam tiếp cận hệ hình duy vật biện chứng hiện đại.
  • Nghiên cứu chỉ rõ đóng góp lịch sử trong việc phát hiện kiểu tác giả nhà nho tài tử và vai trò của kinh tế ngoại thương đối với văn học trung đại.
  • Luận văn phê phán thỏa đáng những giới hạn của khuynh hướng xã hội học dung tục khi xem nhẹ phương diện thi pháp hình thức nghệ thuật.
  • Toàn bộ nội dung nghiên cứu mở ra định hướng ứng dụng phương pháp phê bình liên ngành văn hóa – xã hội – thi pháp trong giai đoạn 2026–2030; quý độc giả, giảng viên và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn tài liệu để làm giàu thêm tri thức học thuật chuyên sâu.