Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ sinh học với đề tài "Nghiên cứu, đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa, đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Văn Chính, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Minh Hợi và TS. Đỗ Ngọc Đài. Luận án thuộc chuyên ngành Thực vật học (mã số 9.11), bảo vệ tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào năm 2019.

Về tính cấp thiết, Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với sự phân hóa đa dạng về địa hình, thổ nhưỡng và cảnh quan khí hậu, được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng tài nguyên sinh vật. Các thống kê thực vật học ghi nhận hệ thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam có khoảng 13.000 loài, trong đó có khoảng 660 loài cho tinh dầu (chiếm 6,3% tổng số loài đã biết), thuộc 357 chi (15,8% tổng số chi) và 114 họ (37,8% tổng số họ). Các hợp chất tự nhiên chiết xuất từ cây tinh dầu đóng vai trò là nguồn nguyên liệu thiết yếu trong các ngành công nghiệp dược phẩm, thực phẩm và mỹ phẩm. Vườn Quốc gia Bến En (tỉnh Thanh Hóa) sở hữu diện tích rừng tự nhiên rộng lớn cùng hệ sinh thái núi đá vôi xen kẽ núi đất và vùng ngập nước hồ Sông Mực, là nơi cư trú của nhiều loài thực vật có tinh dầu quý bản địa.

Khoảng trống nghiên cứu được chỉ rõ: Trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình nghiên cứu về thực vật tại Bến En chủ yếu tập trung điều tra tổng quát hệ thực vật hoặc chỉ dừng lại ở các khảo sát riêng lẻ về thành phần hóa học, hoạt tính kháng khuẩn của một vài loài đơn lẻ (như các nghiên cứu của Đỗ Ngọc Đài, Nguyễn Anh Dũng, Ngô Xuân Lương, Đậu Bá Thìn). Toàn vùng chưa có một công trình khoa học nào điều tra, thống kê mang tính hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về đa dạng taxon, dạng thân, giá trị sử dụng, cũng như đánh giá đồng bộ hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của các loài cây tinh dầu phân bố tại khu vực này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Đánh giá về tính đa dạng và giá trị sử dụng của các loài thực vật chứa tinh dầu tại Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Xác định được hàm lượng và thành phần tinh dầu của một số loài thực vật tại khu vực nghiên cứu.
  3. Xác định được hoạt tính kháng muỗi và kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu loài Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) Smith).
  4. Đề xuất được các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý các loài cây có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài thực vật có tinh dầu phân bố tự nhiên và gây trồng tại Vườn Quốc gia Bến En.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ diện tích tự nhiên 16.634 ha của Vườn Quốc gia Bến En, bao gồm 16 tiểu khu, vùng lòng hồ Sông Mực, khu núi đá Hải Vân, Sông Chàng thuộc địa bàn huyện Như Thanh và huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa (tọa độ địa lý từ 19°28’ đến 19°39’ vĩ độ Bắc; 105°20’ đến 105°35’ kinh độ Đông).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được tổ chức triển khai thu thập mẫu thực địa và phân tích thực nghiệm trong giai đoạn từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 9 năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các chặng đường phát triển của nghiên cứu cây tinh dầu từ lịch sử cổ đại đến hiện đại trên thế giới và tại Việt Nam.

Trên thế giới, việc sử dụng thực vật chứa tinh dầu đã xuất hiện từ các nền văn minh cổ đại: sách Thần Nông Bản Thảo Kinh ở Trung Quốc (khoảng 2.700 năm trước Công nguyên) ghi nhận hơn 300 loài thảo dược; người Ai Cập cổ đại từ năm 450 TCN đã dùng phương pháp ngâm chiết để trích ly tinh dầu và ướp xác; cuốn "Những cây làm thuốc" ở Nhật Bản (năm 890) thống kê gần 100 loài cây tinh dầu. Nghiên cứu khoa học chuyên sâu bắt đầu phát triển từ thế kỷ XVI tại Anh, Tây Ban Nha, Ý. Bước sang thế kỷ XX, các công bố kinh điển của Charabot (1903, 1904, 1907), công trình bộ sách The Essential Oils của E. Guenther, và nghiên cứu của Boyle về bảo quản thực phẩm đã thiết lập nền tảng lý thuyết hóa học tinh dầu. Giai đoạn cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, các công trình của B.M. Lawrence (1992-2001) đã phân tích thành phần hóa học của hơn 1.000 loài thực vật; Hammer và cộng sự (1999) thử hoạt tính kháng khuẩn của 52 loại tinh dầu; L. Oyen và Nguyễn Xuân Dũng (1999) thống kê 70 loài ở Đông Nam Á trong tác phẩm Essential oil plants in South-East Asia. Gần đây, Duschatzky và Lang (2012), Teixeira và cộng sự (2013), Lopez-Romero và cộng sự (2015), Heleili Nouzha và cộng sự (2018), Radaelli và cộng sự (2016) đã phân tích cơ chế kháng các chủng vi khuẩn phân hủy thực phẩm và vi khuẩn đa kháng thuốc từ tinh dầu thảo mộc.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu nền tảng khởi đầu từ Flore générale de l'Indo-Chine của H. Lecomte và cộng sự (1907-1952) mô tả 7.004 loài thực vật có mạch, tiếp nối bởi công trình phân loại của Nguyễn Tiến Bân (2005). Các chuyên khảo đầu tiên về cây tinh dầu bao gồm: Vũ Ngọc Lộ (1977) với Những cây tinh dầu quý, Đỗ Tất Lợi (1985) với Cây tinh dầu Việt Nam, Triệu Văn Hùng với Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001, 2002) với Tài nguyên thực vật chứa tinh dầu ở Việt Nam (tập 1 và 2), Lê Ngọc Thạch (2002). Lã Đình Mỡi (2001) chỉ ra rằng Việt Nam mới khai thác và gây trồng được khoảng hơn 20 loài cây có tinh dầu trong tổng số hơn 600 loài đã biết.

Nhiều tác giả trong nước đã đi sâu vào thành phần hóa học và hoạt tính sinh học theo từng nhóm chi họ:

  • Họ Long não (Lauraceae): Nguyễn Xuân Dũng (1996), Nguyễn Thị Tâm và cộng sự (1996), Trần Đình Thắng và cộng sự (2006), Lê Công Sơn (2013 - khảo sát 39 mẫu của 24 loài thuộc chi Cinnamomum và Litsea tại Bạch Mã), Nguyễn Viết Hùng (2017).
  • Họ Cam (Rutaceae): Trần Minh Hợi và Trần Huy Thái (2005), Nguyễn Anh Dũng và cộng sự (2009), Trịnh Hoàng Hiếu (2009), Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2012), Nguyễn Văn Lợi (2014), Hoàng Danh Trung (2017, 2018 - nghiên cứu các chi Clausena, Glycosmis, Zanthoxylum, Euodia tại Nghệ An).
  • Họ Hồ tiêu (Piperaceae): Hoàng Văn Lựu (2003), Phạm Thế Chính và cộng sự (2009), Huỳnh Kỳ Trân (2015), Nguyễn Thiện Chí và cộng sự, Lưu Đàm Ngọc Anh và cộng sự (2016), Lê Đồng Hiếu và cộng sự (2017 - khảo sát 36 mẫu thuộc 18 loài chi Piper ở Bắc Trung Bộ).
  • Họ Gừng (Zingiberaceae): Lê Tùng Châu (1975), Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự (1996, 2005), Lý Ngọc Trâm và cộng sự (2001), Lê Huyền Trâm và cộng sự (2007), Tống Thị Ánh Ngọc và cộng sự (2011), Đào Thị Minh Châu (2016), Lê Thị Hương (2016 - khảo sát 50 mẫu của 12 loài chi Alpinia và Amomum ở Bắc Trung Bộ).

Tại khu vực Thanh Hóa và Vườn Quốc gia Bến En, các dẫn liệu công bố của Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2007), Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2008, 2009), VQG Bến En (2013) mới chỉ dừng ở việc liệt kê sơ bộ các loài gỗ lớn hoặc lâm sản ngoài gỗ. Các nghiên cứu hóa học trước đó chỉ thực hiện rải rác: Lê Văn Hạc và cộng sự (2004) trên cây Mần tưới trắng (Eupatorium staechadosmum), Trần Đình Thắng (2014) trên loài Trám (Canarium parvum, C. tramdenum), Đậu Bá Thìn (2017) trên Sa nhân quả có mỏ (Amomum muricarpum), Ngô Xuân Lương và cộng sự (2017) trên Ngọc lan trắng (Michelia alba).

Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên giải quyết trọn vẹn khoảng trống về mặt dữ liệu thực vật học và hóa thực vật của nhóm thực vật có tinh dầu tại Vườn Quốc gia Bến En. Luận án thiết lập danh lục phân loại hoàn chỉnh, phân tích cấu trúc đa dạng học, giải mã thành phần hóa học tinh dầu của 33 mẫu thuộc 19 loài (với 6 loài lần đầu tiên được công bố dữ liệu hóa học trên thế giới và Việt Nam), đồng thời cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về hoạt tính kháng muỗi và vi sinh vật của loài Gừng gió.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án tiếp cận theo hướng nghiên cứu thực nghiệm kết hợp điều tra thực địa sinh thái học, phân loại học thực vật, hóa học các hợp chất thiên nhiên và thử nghiệm hoạt tính sinh học.

Khái niệm và cơ sở phân loại hóa học:

  • Định nghĩa cây tinh dầu: Luận án tiếp thu định nghĩa sinh học hiện đại, xác định cây tinh dầu là những loài thực vật có chứa cấu trúc mô tiết chuyên biệt làm nhiệm vụ tiết và tích lũy tinh dầu (tế bào tiết, lông tiết ở Lamiaceae, Asteraceae; túi tiết liệt sinh ở Myrtaceae; ống tiết ở Pinaceae, Apiaceae).
  • Bản chất hóa học: Tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, ít tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ không phân cực, cấu tạo phân tử gồm các nhóm chính: terpen hydrocarbon mạch hở/vòng và dẫn xuất chứa oxy (monoterpen $C_{10}$, sesquiterpen $C_{15}$ tạo thành từ các đơn vị isopren $C_5H_8$), các dẫn xuất thơm của benzen/benzoid, cùng các hợp chất chứa nitơ, lưu huỳnh hàm lượng vết.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và hình thái phân loại:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Tổng hợp các văn bản quy hoạch, bản đồ lâm nghiệp, số liệu khí tượng thủy văn, hiện trạng rừng Bến En và tiêu bản lưu trữ tại các bảo tàng.
  • Phương pháp điều tra thực địa: Áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997). Thiết lập 6 tuyến điều tra chính cắt ngang qua các sinh cảnh đặc trưng của Vườn Quốc gia:
    1. Tuyến Sông Chàng ($19^\circ 32'45''$ B, $105^\circ 21'46''$ Đ)
    2. Tuyến Xuân Thái ($19^\circ 32'40''$ B, $105^\circ 30'27''$ Đ)
    3. Tuyến lòng hồ Sông Mực và Đảo thực vật ($19^\circ 33'10'' - 19^\circ 38'20''$ B, $105^\circ 30'27'' - 105^\circ 33'31''$ Đ)
    4. Tuyến Bình Lương ($19^\circ 34'20''$ B, $105^\circ 31'40''$ Đ)
    5. Tuyến Xuân Hòa – Xuân Quỳ ($19^\circ 32'41'' - 19^\circ 37'16''$ B, $105^\circ 21'46'' - 105^\circ 22'54''$ Đ)
    6. Tuyến Hải Vân – Tân Bình ($19^\circ 37'10'' - 19^\circ 39'07''$ B, $105^\circ 29'18''$ Đ). Từ tuyến chính, các tuyến phụ kiểu xương cá được rẽ sang hai phía (cứ 1,5 km có 2 tuyến phụ), khảo sát thực vật có mạch trong dải hành lang 10 m mỗi bên tuyến.
  • Phương pháp thu mẫu và xử lý tiêu bản: Thu thập hơn 2.000 mẫu tiêu bản thực vật có mạch mang cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản (hoa, quả). Mẫu được ép phẳng trên giấy báo dày, thay giấy hàng ngày, sấy khô và lưu trữ tại Phòng mẫu Thực vật, Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Hồng Đức.
  • Phương pháp định loại: Sử dụng phương pháp hình thái so sánh kết hợp tham vấn chuyên gia phân loại thực vật. Tài liệu tra cứu gồm Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân), Flora of China, Flore générale de l'Indo-Chine, các tập Thực vật chí Việt Nam (họ Na, Bạc hà, Đơn nem, Cỏ roi ngựa, Long não, Gừng). Chỉnh lý tên khoa học theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001-2005) và cơ sở dữ liệu The Plant List; sắp xếp hệ thống theo R. Brummitt (1992).

Phương pháp nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học:

  • Thu mẫu và tách chiết tinh dầu: Thu hái mẫu tươi với khối lượng trên 1,0 kg đối với các bộ phận lá, thân, cành, vỏ, thân rễ, rễ hoặc quả. Tinh dầu được tách chiết bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước có hồi lưu bằng thiết bị Clevenger chuyên dụng trong thời gian 3-4 giờ theo quy chuẩn Dược điển. Tinh dầu thu được được làm khan bằng natri sulfat khan ($Na_2SO_4$) và bảo quản ở nhiệt độ từ $0^\circ C$ đến $4^\circ C$.
  • Phân tích thành phần hóa học: Sử dụng phương pháp sắc ký khí (GC) kết hợp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS). Nhận diện thành phần dựa trên chỉ số lưu giữ Kovats (Kovats retention index - KI) so sánh với dãy chuẩn n-alkan ($C_8 - C_{32}$) và đối chiếu phổ khối lượng (MS) với thư viện chuẩn NIST và Wiley.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra chuẩn hóa đối với các thầy thuốc y học cổ truyền, cán bộ kiểm lâm quản lý rừng và cộng đồng dân cư các xã vùng đệm về tình hình khai thác, sử dụng và thương mại hóa cây tinh dầu.
  • Phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học:
    • Thử hoạt tính diệt muỗi đối với ấu trùng muỗi Culex quinquefasciatus và muỗi trưởng thành Aedes albopictus theo hướng dẫn chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ở các nồng độ và các khoảng thời gian kiểm tra khác nhau, xác định giá trị $LC_{50}$ và $LC_{90}$.
    • Thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định trên các chủng vi khuẩn Gram (+), vi khuẩn Gram (-) và vi nấm bằng phương pháp pha loãng xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ diệt tối thiểu (MBC/MFC).
Phương pháp nghiên cứu Đối tượng / Công cụ áp dụng Mục tiêu kỹ thuật
Điều tra thực địa theo tuyến 6 tuyến chính và các tuyến phụ kiểu xương cá Khảo sát thành phần loài, thu mẫu tiêu bản thực vật
Hình thái so sánh Hơn 2.000 mẫu tiêu bản, tài liệu Thực vật chí Giám định tên khoa học, lập danh lục phân loại học
Chưng cất lôi cuốn hơi nước Thiết bị Clevenger tiêu chuẩn Định lượng hàm lượng tinh dầu theo khối lượng tươi
GC và GC-MS Cột mao quản, thư viện phổ NIST và Wiley Xác định tỷ lệ phần trăm và cấu trúc hóa học tinh dầu
Thử nghiệm sinh học WHO Muỗi Ae. albopictus, Cx. quinquefasciatus Đánh giá độc tính diệt côn trùng ($LC_{50}$, $LC_{90}$)
Pha loãng nồng độ (MIC) Vi khuẩn Gram (+), Gram (-), vi nấm Đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định
Phỏng vấn xã hội học Phiếu điều tra, phỏng vấn thầy thuốc nam Đánh giá hiện trạng khai thác và tri thức bản địa

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 có độ dài 30 trang, tập trung tổng kết các vấn đề lý luận về tinh dầu, phân bố trong tự nhiên, vai trò ứng dụng trong công nghiệp và y dược, đồng thời tổng hợp bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu cây tinh dầu trên thế giới và tại Việt Nam.

Tác giả đi sâu phân tích đặc điểm các họ thực vật có tinh dầu chủ lực gồm họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Hồ tiêu (Piperaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae), chỉ rõ sự phân bố các nhóm hợp chất đặc trưng (monoterpen, sesquiterpen và dẫn xuất phenol) cũng như các thử nghiệm hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn, chống ung thư và diệt côn trùng.

Nội dung chương trình bày chi tiết về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Vườn Quốc gia Bến En:

  • Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích 16.634 ha; gồm 16 tiểu khu, vùng núi đá Hải Vân và hồ Sông Mực diện tích trung bình 2.200 ha (dung tích 250-400 triệu $m^3$, cung cấp nước tưới cho 10.000 ha lúa). Khí hậu mang tính chất á nhiệt đới gió mùa Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm $23,3^\circ C$, lượng mưa trung bình năm đạt 1.790 mm (mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11 chiếm 90% lượng mưa). Địa hình karst hiểm trở chia cắt mạnh xen kẽ thung lũng, đỉnh cao nhất là núi Đàm (497 m). Đất đai gồm đất phù sa suối, đất feralit đỏ vàng trên đá sét, feralit vàng nhạt trên sa thạch và đất phong hóa trên đá vôi.
  • Hiện trạng rừng: Rừng tự nhiên có diện tích 11.166,48 ha, bao gồm: rừng giàu 162,42 ha (1,10%); rừng trung bình 2.404,38 ha (16,30%); rừng nghèo 3.036,81 ha (20,59%); rừng phục hồi chưa có trữ lượng 1.096,44 ha (7,43%); rừng phục hồi có trữ lượng 790,96 ha (5,37%); rừng hỗn giao gỗ và tre nứa 2.502,40 ha (16,97%); rừng tre nứa 1.173,07 ha (7,95%). Đất trống, trảng cỏ chiếm 294,87 ha (2,00%); đất ngoài lâm nghiệp chiếm 2.701,67 ha.
  • Điều kiện dân sinh: Khu vực gồm 1 thị trấn và 16 xã vùng đệm, dân số 41.672 người (8.023 hộ), chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái (11.302 người), Mường (4.518 người), Thổ (3.156 người) và người Kinh. Mật độ dân số 58 người/$km^2$, đời sống phụ thuộc nhiều vào canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản, tạo sức ép lên công tác quản lý tài nguyên.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 có độ dài 7 trang, quy định chi tiết quy trình khoa học được áp dụng trong toàn bộ luận án. Tác giả xác lập rõ khung đối tượng là nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại Bến En trong giai đoạn thực hiện 2014-2018.

Nội dung nghiên cứu bao quát từ xây dựng danh lục, đánh giá cấu trúc phân loại học theo taxon (ngành, lớp, họ, chi, loài), phân tích dạng sống, thống kê nhóm giá trị sử dụng và các loài có nguy cơ tuyệt chủng theo Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN. Quy trình phân tích hóa học mô tả chuẩn xác từ khâu lấy mẫu thực địa ngoài tự nhiên (tối thiểu 1 kg tươi cho mỗi bộ phận lá, cành, vỏ, rễ hoặc quả), quy trình chưng cất Clevenger thu tinh dầu, kỹ thuật phân tích GC-MS định tính và định lượng các cấu tử hóa học, cho đến quy trình đánh giá hoạt tính sinh học của tinh dầu loài Gừng gió (Zingiber zerumbet) trong việc diệt ấu trùng muỗi Culex quinquefasciatus, diệt muỗi trưởng thành Aedes albopictus và kháng các chủng vi sinh vật chỉ thị.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 là chương trọng tâm với độ dài 102 trang, trình bày hệ thống các kết quả thực nghiệm và thảo luận khoa học:

  1. Đa dạng nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại VQG Bến En:
  • Phân bố trong các ngành thực vật: Hệ thực vật có tinh dầu tại Bến En tập trung chủ yếu ở ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), chiếm ưu thế tuyệt đối về cả số lượng họ, chi và loài so với các ngành Thực vật có mạch khác như Dương xỉ hay Thông.
  • Phân tích các taxon đa dạng nhất: Luận án lập bảng thống kê chi tiết các họ giàu loài nhất, trong đó các họ chiếm ưu thế bao gồm họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Hồ tiêu (Piperaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Hoa môi (Lamiaceae), họ Sim (Myrtaceae). Các chi có số lượng loài tinh dầu nhiều nhất gồm Cinnamomum, Litsea, Piper, Alpinia, Amomum.
  • So sánh hệ thực vật: Luận án so sánh cơ cấu thành phần loài cây có tinh dầu của Bến En với khu hệ thực vật VQG Pù Mát (Nghệ An) và phổ thực vật có tinh dầu của toàn hệ thực vật Việt Nam, chỉ ra nét tương đồng về mặt phân bố nhiệt đới cũng như những đặc trưng riêng của hệ sinh thái núi đất xen kẽ karst Bến En.
  • Đa dạng về dạng sống và giá trị sử dụng: Các loài được phân loại theo dạng thân: cây gỗ lớn (GOL), cây gỗ trung bình (GOT), cây gỗ nhỏ (GON), cây bụi (BUI), cây thân thảo (THA), dây leo trườn (GLT). Về giá trị sử dụng, các loài được phân thành các nhóm: cho tinh dầu (CTD), làm thuốc (THU), làm gia vị (CGV), cây ăn được (ĂNĐ), cây lấy gỗ (LGO), cây làm cảnh (CAN) và cho dầu béo (CDB).
  • Đa dạng về giá trị bảo tồn: Thống kê các loài thực vật có tinh dầu quý hiếm, bị đe dọa đang có mặt tại Bến En được xếp hạng trong Sách Đỏ Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP (hoặc Nghị định 06/2019/NĐ-CP) và Danh lục Đỏ IUCN, như Re hương (Cinnamomum parthenoxylon), Quế thanh (Cinnamomum loureiroi)...
  1. Hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của các loài nghiên cứu: Luận án tiến hành chưng cất và phân tích thành phần hóa học của 33 mẫu tinh dầu thuộc 19 loài thực vật đại diện cho 4 họ chính (Lauraceae, Piperaceae, Rutaceae, Zingiberaceae):
  • Họ Long não (Lauraceae): Khảo sát Re xanh phấn (Cinnamomum glaucescens), Quế hồi (Cinnamomum verum), Lòng trứng hoa vàng (Lindera racemosa), Bời lời nhớt (Litsea glutinosa - phân tích lá và quả), Re trắng lá to (Phoebe tavoyana). Các thành phần chiếm tỷ lệ cao trong họ này chủ yếu là monoterpen và sesquiterpen như linalool, 1,8-cineol, trans-cinnamaldehyd, caryophyllen.
  • Họ Hồ tiêu (Piperaceae): Khảo sát Tiêu gắt (Piper acre), Tiêu bến en (Piper minutistigmum), Tiêu lào (Piper laosanum), Tiêu trên đá (Piper saxicola). Tinh dầu lá và các bộ phận khác đặc trưng bởi các dẫn xuất sesquiterpen hydrocarbon và sesquiterpen chứa oxy.
  • Họ Cam (Rutaceae): Khảo sát Quýt dại (Atalantia roxburghiana), Bưởi bung ít gân (Maclurodendron oligophlebium), Tiểu quất không cuống (Atalantia sessiliflora), Dấu dầu lá chẻ ba (Tetradium trichophorum). Tinh dầu giàu các hợp chất monoterpen như limonen, linalool, ocimen, pinen.
  • Họ Gừng (Zingiberaceae): Khảo sát Sẹ (Alpinia globosa), Riềng malacca (Alpinia malaccensis), Riềng (Alpinia napoensis), Riềng bắc bộ (Alpinia tonkinensis), Sa nhân (Amomum villosum), Gừng gió (Zingiber zerumbet). Thành phần đặc trưng gồm methyl cinnamat, 1,8-cineol, pinen, zerumbon.
  1. Kết quả thử hoạt tính sinh học của loài Gừng gió (Zingiber zerumbet):
  • Hoạt tính kháng muỗi: Thử nghiệm trên ấu trùng muỗi Culex quinquefasciatus và muỗi trưởng thành Aedes albopictus theo các dải nồng độ và thời gian phơi nhiễm khác nhau. Kết quả xác định giá trị $LC_{50}$ và $LC_{90}$, chứng minh tinh dầu thân rễ Gừng gió có độc tính diệt trừ mạnh đối với cả ấu trùng và muỗi trưởng thành.
  • Hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định: Thử nghiệm xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên các chủng vi khuẩn Gram dương, vi khuẩn Gram âm và nấm kiểm định cho thấy tinh dầu thân rễ Gừng gió có khả năng ức chế sinh trưởng rõ rệt trên các chủng kiểm định.
  1. Đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý: Căn cứ trên kết quả điều tra đa dạng học, thực trạng suy giảm nguồn tài nguyên và nhu cầu sử dụng của người dân bản địa, luận án xây dựng hệ thống các giải pháp bảo tồn kết hợp khai thác bền vững: bảo tồn tại chỗ (in-situ), bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ), tổ chức quy hoạch các vùng thu hái tự nhiên có kiểm soát, phát triển mô hình trồng trọt bán công nghiệp dưới tán rừng và nâng cao nhận thức cộng đồng vùng đệm.
Nhóm thực vật khảo sát Đại diện loài phân tích tinh dầu Bộ phận phân tích Nhóm hợp chất chính đặc trưng
Họ Long não (Lauraceae) C. glaucescens, C. verum, L. racemosa, L. glutinosa, P. tavoyana Lá, cành, quả Linalool, 1,8-cineol, cinnamaldehyd, caryophyllen
Họ Hồ tiêu (Piperaceae) P. acre, P. minutistigmum, P. laosanum, P. saxicola Lá, thân $\beta$-caryophyllen, pinen, sesquiterpen
Họ Cam (Rutaceae) A. roxburghiana, M. oligophlebium, A. sessiliflora, T. trichophorum Lá Limonen, linalool, ocimen, sabinen
Họ Gừng (Zingiberaceae) A. globosa, A. malaccensis, A. napoensis, A. tonkinensis, A. villosum, Z. zerumbet Thân rễ, lá, quả Methyl cinnamat, 1,8-cineol, $\alpha/\beta$-pinen, zerumbon

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn của luận án được tác giả tổng kết bao gồm:

  1. Bổ sung dẫn liệu mới, tương đối đầy đủ và có hệ thống về tính đa dạng của nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa. Luận án xác lập danh lục thành phần loài chi tiết, phản ánh toàn diện cơ cấu phân loại học ở các bậc ngành, họ, chi, loài, phổ dạng thân sinh học, các nhóm giá trị sử dụng và xác định danh sách các loài có giá trị bảo tồn nguy cấp đang bị đe dọa.
  2. Cung cấp dẫn liệu mới về hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của 33 mẫu thuộc 19 loài thực vật đại diện cho 4 họ. Các bộ phận khảo sát bao gồm lá, thân, cành, rễ, thân rễ, vỏ và quả. Đặc biệt, luận án lần đầu tiên công bố dữ liệu khoa học về hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của 6 loài thực vật mà trước đó chưa từng có công bố nào trên thế giới hoặc ở Việt Nam.
  3. Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về hoạt tính sinh học của tinh dầu thân rễ loài Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) Smith). Luận án xác định các chỉ số thực nghiệm về hoạt tính diệt muỗi trưởng thành Aedes albopictus, ấu trùng muỗi Culex quinquefasciatus và hoạt tính ức chế các chủng vi sinh vật kiểm định.
  4. Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp Ban quản lý Vườn Quốc gia Bến En và các cơ quan chức năng tỉnh Thanh Hóa xây dựng chiến lược, kế hoạch bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm; đồng thời danh lục các loài có giá trị sử dụng và hiệu suất tinh dầu cao định hướng cho việc khai thác hợp lý, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế và phạm vi nghiên cứu tiếp theo được ghi nhận dựa trên các giới hạn thực tế của luận án:

  • Nghiên cứu tập trung giải quyết phân tích chuyên sâu thành phần hóa học tinh dầu trên 33 mẫu của 19 loài trọng điểm thuộc 4 họ thực vật tiêu biểu (Lauraceae, Piperaceae, Rutaceae, Zingiberaceae); nhiều loài cho tinh dầu khác đã được lập danh lục tại VQG Bến En chưa được thu hái đủ khối lượng mẫu tươi (tối thiểu 1 kg) để phục vụ chiết xuất và phân tích thành phần hóa học.
  • Thử nghiệm hoạt tính sinh học (kháng muỗi và kháng vi sinh vật kiểm định) mới chỉ thực hiện tập trung trên đối tượng tinh dầu thân rễ loài Gừng gió (Zingiber zerumbet), chưa mở rộng đánh giá đối với toàn bộ các loài mới được phân tích thành phần hóa học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: tiếp tục mở rộng khảo sát hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của các loài còn lại trong danh lục; nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ, sinh thái thổ nhưỡng đến sự tích lũy hoạt chất; thử nghiệm nhân giống và trồng bán tự nhiên dưới tán rừng các loài có hoạt tính sinh học cao; phân lập các hợp chất tinh khiết từ tinh dầu để ứng dụng trong dược phẩm và chế phẩm sinh học diệt côn trùng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành có giá trị thực tiễn và lý luận cao:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thực vật học, Sinh thái học, Hóa học các hợp chất thiên nhiên và Dược học: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra thực địa theo tuyến kết hợp định loại hình thái học, quy trình phân tích thành phần hóa học bằng GC-MS, phương pháp tra cứu chỉ số lưu giữ Kovats và quy trình thử nghiệm sinh học theo tiêu chuẩn WHO.
  • Đối với giảng viên, nhà nghiên cứu thực vật và lâm nghiệp: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng về đa dạng loài, hình thái và thành phần cấu tử hóa học tinh dầu, đặc biệt là dữ liệu gốc của 6 loài thực vật lần đầu tiên được công bố.
  • Đối với Ban quản lý Vườn Quốc gia Bến En, Chi cục Kiểm lâm và các nhà hoạch định chính sách tỉnh Thanh Hóa: Bộ danh lục các loài cây tinh dầu có giá trị bảo tồn và kinh tế là cơ sở khoa học trực tiếp để xây dựng đề án bảo tồn đa dạng sinh học, lập kế hoạch bảo vệ các loài quý hiếm và xây dựng mô hình khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ cho cộng đồng cư dân vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án đã phân tích hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của bao nhiêu loài và bao nhiêu mẫu thực vật tại VQG Bến En?
    Luận án đã tiến hành xác định hàm lượng và phân tích thành phần hóa học tinh dầu của 33 mẫu nghiên cứu thuộc 19 loài thực vật, đại diện cho 4 họ chính là họ Long não (Lauraceae), họ Hồ tiêu (Piperaceae), họ Cam (Rutaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae). Trong đó, lần đầu tiên cung cấp dẫn liệu về tinh dầu của 6 loài thực vật.

  2. Có bao nhiêu tuyến điều tra thực địa chính được thiết lập trong luận án và phân bố ở những khu vực nào?
    Luận án đã thiết lập 6 tuyến điều tra thực địa chính: tuyến Sông Chàng, tuyến Xuân Thái, tuyến lòng hồ Sông Mực (Đảo thực vật và các đảo lân cận), tuyến Bình Lương, tuyến Xuân Hòa – Xuân Quỳ, và tuyến Hải Vân – Tân Bình. Dọc theo mỗi 1,5 km tuyến chính có 2 tuyến phụ hình xương cá mở sang hai bên để khảo sát trong phạm vi 10 m mỗi bên.

  3. Hoạt tính sinh học của tinh dầu thân rễ loài Gừng gió (Zingiber zerumbet) được thử nghiệm trên những đối tượng nào và cho kết quả ra sao?
    Tinh dầu thân rễ loài Gừng gió được thử nghiệm độc tính kháng muỗi đối với ấu trùng muỗi Culex quinquefasciatus, muỗi trưởng thành Aedes albopictus và thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định. Kết quả xác định được các giá trị nồng độ gây chết $LC_{50}$, $LC_{90}$ trên cả hai loài muỗi và xác định được nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) trên các chủng vi khuẩn, nấm kiểm định, chứng minh khả năng diệt muỗi và kháng khuẩn của tinh dầu loài này.

  4. Khối lượng mẫu tươi tối thiểu cần thu thập ngoài thực địa để phục vụ nghiên cứu hóa học tinh dầu trong luận án là bao nhiêu?
    Theo quy trình nghiên cứu của luận án, đối với các loài có khả năng thu hái trên thực địa, khối lượng mẫu tươi tối thiểu cần thu thập là từ 1,0 kg trở lên cho mỗi bộ phận (lá, thân rễ, rễ, vỏ hoặc quả) thì mới tiến hành chưng cất tách chiết tinh dầu phục vụ đánh giá hàm lượng và phân tích thành phần hóa học. Các loài không thu đủ khối lượng chỉ được thu mẫu làm tiêu bản định loại.

  5. Quy mô diện tích tự nhiên và đặc điểm rừng của VQG Bến En nơi tác giả thực hiện nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
    Tổng diện tích tự nhiên của VQG Bến En là 16.634 ha (gồm 16 tiểu khu, hồ Sông Mực và khu núi đá Hải Vân). Diện tích đất có rừng tự nhiên là 11.166,48 ha; trong đó rừng nghèo chiếm diện tích lớn nhất với 3.036,81 ha (20,59%), rừng hỗn giao gỗ và tre nứa chiếm 2.502,40 ha (16,97%), rừng trung bình chiếm 2.404,38 ha (16,30%), và rừng giàu chỉ chiếm 162,42 ha (1,10%).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Văn Chính là một công trình nghiên cứu thực nghiệm bài bản, hệ thống và toàn diện về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa. Tác giả đã hoàn thành việc đánh giá đa dạng học thực vật, lập danh lục taxon, xác định hàm lượng và thành phần hóa học tinh dầu của 33 mẫu thuộc 19 loài (với 6 loài lần đầu tiên được công bố), đồng thời làm rõ hoạt tính kháng muỗi và kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu thân rễ loài Gừng gió (Zingiber zerumbet). Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp các dữ liệu khoa học mới cho chuyên ngành Thực vật học và Hóa học các hợp chất tự nhiên, mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên rừng tại địa phương.