Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ địa lý của nghiên cứu sinh Hà Văn Hành có tiêu đề chính thức: "Nghiên cứu và đánh giá tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững ở huyện vùng cao A Lưới (Thừa Thiên Huế)", được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002, thuộc chuyên ngành Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên (mã số: 1.14...). Công trình được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TSKH. Nguyễn Quang Mỹ và TS. Nguyễn Cao Huần. Toàn văn luận án gồm 151 trang chính văn, 4 chương, 50 bảng số liệu, 20 sơ đồ, bản đồ và 138 tài liệu tham khảo, đi kèm phần phụ lục gồm 17 bảng số liệu và 8 ảnh minh họa.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng gia tăng dân số và nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế tại huyện miền núi A Lưới. Việc khai thác mang tính tự phát, thiếu cơ sở khoa học cùng tình trạng du canh du cư hoặc định cư du canh còn phổ biến trong cộng đồng các dân tộc ít người (chiếm trên 75% dân số toàn huyện) đã dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường. Huyện A Lưới là địa bàn vùng cao biên giới phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, có gần 80 km đường biên giới, giữ vị trí xung yếu về quốc phòng nhưng chưa được nghiên cứu toàn diện, nguồn thông tin khoa học còn tản mạn. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các công trình đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên theo quan điểm cảnh quan học ứng dụng nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho quy hoạch nông, lâm nghiệp và định canh định cư.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: đánh giá tổng hợp tài nguyên theo các đơn vị cảnh quan phục vụ cho việc phát triển nông, lâm nghiệp bền vững ở huyện vùng cao A Lưới.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, luận án giải quyết 5 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Xây dựng cơ sở lý luận và quy trình nghiên cứu, đánh giá tài nguyên cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp miền núi.
- Xác định các tính chất đặc thù về điều kiện tự nhiên và sự phân hóa lãnh thổ của khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá tiềm năng các dạng tài nguyên chủ yếu phục vụ cho việc phát triển nông, lâm nghiệp ở huyện A Lưới.
- Phân tích hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên và hiệu quả sản xuất của một số cây trồng chủ yếu ở địa bàn nghiên cứu.
- Định hướng tổ chức định canh định cư và xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông hộ hợp lý phục vụ cho việc phát triển bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Các điều kiện tự nhiên, tiềm năng tài nguyên thiên nhiên chủ yếu (đất, nước, khí hậu, rừng) và tài nguyên nhân văn (dân cư, nguồn lực lao động) có liên quan trực tiếp đến sản xuất nông, lâm nghiệp.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ phạm vi ranh giới hành chính huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, với diện tích đất tự nhiên là 1.179,51 km² (gồm 1 thị trấn và 20 xã phân bố dọc Quốc lộ 14 và Quốc lộ 49). Về quy hoạch cụ thể, tác giả giới hạn thí điểm tại khu vực cụm xã A So (gồm các xã Hương Lâm, Đông Sơn và A Đớt).
- Phạm vi thời gian: Các chuỗi số liệu khí tượng, thủy văn và thống kê kinh tế - xã hội được tổng hợp, phân tích chủ yếu trong giai đoạn 1990 - 2000; các phương án định hướng và dự báo quy hoạch được xây dựng cho thời kỳ 2000 - 2010.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả phân chia hệ thống tài liệu nghiên cứu trước đó thành hai nhóm chính:
Nhóm thứ nhất gồm các tài liệu liên quan đến cơ sở lý thuyết và phương pháp luận:
- Về nghiên cứu địa chất, địa hình và tài nguyên lòng đất: Các công trình của Nguyễn Văn Canh (1995), Nguyễn Trường Giang và cộng sự (1996), cùng tập thể tác giả Chương trình 52E (1989).
- Về tài nguyên khí hậu và nước: Ở phạm vi toàn quốc có công trình của Nguyễn Can (1981), Nguyễn Thị Hiển (1995), Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu (1988, 1992), Nguyễn Viết Phổ và Vũ Văn Tuấn (1994). Ở phạm vi miền Trung có các nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuần (1994), Ngô Đình Tuấn (1984), Mai Trọng Thông và cộng sự (1992), Phùng Đức Vinh (1995), và đặc biệt là công trình do Nguyễn Việt chủ biên (1998) về khí hậu thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Về tài nguyên đất và sinh vật: Trên thế giới, tác giả điểm lại phương pháp phát sinh của Liên Xô cũ, phân loại Soil Taxonomy của Mỹ, hệ thống phân loại FAO - UNESCO và hướng dẫn đánh giá đất đai của Beek. Tại Việt Nam, có các nghiên cứu khái quát của Tôn Thất Chiểu và Lê Thái Bạt (1986, 1993), Nguyễn Khang và Phạm Dương Ứng (1995), Trần An Phong (1992, 1995), Bùi Quang Toản (1994); các nghiên cứu khu vực của Vũ Thị Bình (1983), Phạm Quang Khánh (1996), Nguyễn Văn Nhân (1992), Nguyễn Công Pho (1983), Nguyễn Văn Tuyển (1995). Về tài nguyên rừng có số liệu của Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1991), Chương trình 52E (1989), Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Trung Trung Bộ (1999), công trình phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978) và các báo cáo của Bộ Lâm nghiệp (1995).
- Về cảnh quan và đánh giá cảnh quan: Cơ sở lý thuyết nền tảng của A.G. Isachenko; các công trình cảnh quan ứng dụng của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1993), Nguyễn Cao Huần (1993), Lê Văn Thăng (1995), Nguyễn Trọng Tiến (1997), Nguyễn Văn Vinh (1989); xu hướng sinh thái hóa cảnh quan của Phạm Quang Anh (1996), Nguyễn Thế Thôn (1992), Mai Trọng Thông (1991). Phương pháp đánh giá cảnh quan của L. Mukhina được áp dụng bởi Phòng Sinh thái cảnh quan (1984), Nguyễn Văn Sơn (1987), Nguyễn Cao Huần (1993), Lê Văn Thăng (1995); cùng nhận định của D. Armand (1975) về hạn chế của bài toán cộng tuyến tính.
- Về định canh định cư và mô hình kinh tế nông hộ: Các báo cáo hội thảo khoa học về định canh định cư (1993, 1996); các nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh và Trần Thị Vân Anh (1997), Nguyễn Tiến Mạnh và Dương Ngọc Thí (1997), Chu Văn Vũ (1996); lý luận kinh tế nông hộ và nông nghiệp bền vững của C. Mác, Nguyễn Điền (1995), Frank Ellis (1995), B. Mollison (1988), Lê Thị Vinh Thí (1995), Trịnh Văn Thịnh (1994); kinh nghiệm xây dựng mô hình kinh tế hộ và trang trại của Nguyễn Ngọc Bình (1996), Lê Trọng Cúc (1996), Nguyễn Ngọc Kính (1994), Đặng Trung Thuận và Trương Quang Hải (1996), Lê Trọng (1997).
Nhóm thứ hai gồm các tài liệu trực tiếp về địa bàn nghiên cứu: Bản đồ đất khu vực A So - A Lưới tỷ lệ 1/25.000 do Đoàn khảo sát nông nghiệp thuộc Ủy ban Nhà nước lập trước năm 1975; chương trình "Phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ Bình Trị Thiên" (1983 - 1988) của Hoàng Đức Triêm và cộng sự; chương trình nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc màu da cam của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1986 - 1990); Chương trình 52E "Các tỉnh giáp biển miền Trung" (1989); Đề tài cấp Bộ B 97.21 (1997 - 1999) do chính tác giả chủ trì về cấu trúc cảnh quan phục vụ định canh định cư; và tài liệu khảo sát thuộc Dự án Việt Nam - Hà Lan (VNRP) giai đoạn 1997 - 1998.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây tại A Lưới chủ yếu dừng lại ở các khảo sát chuyên ngành đơn tính (thổ nhưỡng, thực vật, khí hậu riêng lẻ) hoặc điều tra xã hội học độc lập, chưa có sự kết nối hữu cơ giữa các hợp phần tự nhiên với tổ chức không gian sản xuất và tập quán tộc người. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tích hợp toàn diện các hợp phần tự nhiên và kinh tế - xã hội theo các đơn vị cảnh quan, định lượng hóa mức độ thích nghi sinh thái và phân tích hiệu quả kinh tế để đề xuất quy hoạch cụ thể cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống các khái niệm và cơ sở lý luận địa lý học môi trường:
- Khái niệm tài nguyên thiên nhiên (dẫn theo Từ điển Bách khoa Xô Viết, 1987) là các hợp phần tự nhiên được xã hội sử dụng trong sản xuất để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần. Tác giả phân chia tài nguyên thành hai nhóm lớn: tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, khí hậu, khoáng sản, rừng) và tài nguyên nhân văn (lao động, thông tin, trí tuệ); đồng thời phân biệt tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được.
- Khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo "Tương lai của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, Brundtland, 1987).
- Mối liên hệ tương đồng giữa tài nguyên và cấu trúc cảnh quan: Luận điểm trung tâm khẳng định mỗi đơn vị cảnh quan đều tương ứng với một tổ hợp tài nguyên xác định:
| Cấu trúc cảnh quan |
Tài nguyên tương ứng |
| Địa chất và địa hình |
Nền tảng rắn, tài nguyên lòng đất |
| Khí hậu và thủy văn |
Nền tảng nhiệt ẩm, tài nguyên khí hậu, tài nguyên nước mặt và nước ngầm |
| Thổ nhưỡng và sinh vật |
Tài nguyên đất, dinh dưỡng đất, tài nguyên động vật và thực vật |
| Con người |
Yếu tố nhân tác, tài nguyên lao động |
- Khung phân tích kinh tế sinh thái nông hộ miền núi dựa trên hệ thống tương tác ba thành phần: "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa" (hệ thống Thiên - Địa - Nhân), trong đó hộ gia đình được xem là một hệ sinh thái nông thôn tiếp nhận năng lượng mặt trời để tạo ra sản phẩm.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các kỹ thuật định tính và định lượng:
- Phương pháp thống kê: Hệ thống hóa dữ liệu thứ cấp từ tài liệu lưu trữ, báo cáo định kỳ, niên giám thống kê huyện, đo đếm bản đồ và dữ liệu phỏng vấn.
- Phương pháp bản đồ: Phân tích liên hợp các bản đồ đơn tính (địa mạo tỷ lệ 1/200.000, thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000, hiện trạng rừng tỷ lệ 1/50.000, bản đồ đất A So tỷ lệ 1/25.000) để xây dựng bản đồ cảnh quan huyện A Lưới và bản đồ cảnh quan khu vực A So tỷ lệ 1/25.000.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát theo 4 tuyến chính gồm tuyến Tây Bắc (Hồng Kim, Bắc Sơn, Hồng Trung, Hồng Vân, Hồng Thủy), tuyến Đông Nam (Phú Vinh, Hương Phong, Hương Lâm, Đông Sơn, A Đớt), tuyến Đông Bắc (Hồng Hạ, Hương Nguyên), và tuyến Tây Nam (Hồng Quảng, Nhâm, Hồng Thái). Nghiên cứu định vị thực hiện tại 3 điểm chìa khóa: xã Hồng Vân (đại diện phía Bắc), xã Hương Lâm (đại diện phía Nam) và xã Hương Nguyên (đại diện Đông Trường Sơn). Công tác thực địa bao gồm đào phẫu diện đất (chính, phụ, thăm dò), khoanh vẽ thảm thực vật theo sườn đối diện, đo sinh khối theo ô tiêu chuẩn. Đồng thời, tác giả điều tra ngẫu nhiên 146 hộ gia đình thuộc 15 xã bằng phiếu điều tra và áp dụng kỹ thuật kiểm tra chéo (cross checking).
- Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA/RRA): Triển khai tại các xã Hương Lâm, Đông Sơn và A Đớt nhằm thu thập nguyện vọng cộng đồng và đánh giá tính khả thi của quy hoạch khu A So.
- Phương pháp đánh giá và phân hạng thích nghi cảnh quan:
- Thay vì sử dụng bài toán cộng tuyến tính có trọng số theo L. Mukhina do việc xác định trọng số $K$ khi chưa qua thực nghiệm nhiều năm dễ dẫn đến sai lệch bù trừ, tác giả sử dụng bài toán trung bình nhân (nhân điều hòa):
$$M_0 = \sqrt[n]{a_1 \cdot a_2 \dots a_n}$$
Trong đó: $M_0$ là điểm đánh giá của đơn vị cảnh quan; $a_1, a_2, \dots, a_n$ là điểm của các chỉ tiêu đánh giá từ 1 đến $n$; $n$ là số lượng chỉ tiêu.
- Thang phân hạng thích nghi được xác định khách quan bằng công thức toán học của Aivasian (1983):
$$S = \frac{S_{max} - S_{min}}{1 + \lg H}$$
Trong đó: $S$ là khoảng cách điểm trong mỗi hạng; $S_{max}$ và $S_{min}$ lần lượt là giá trị điểm tối đa và tối thiểu; $H$ là số lượng loại cảnh quan đưa vào tính toán.
- Phân tích hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất bằng chỉ số hiện giá thu nhập thuần ($NPV$) và tỷ số lợi ích - chi phí ($R$):
$$NPV = \sum_{t=1}^n \frac{B_t - C_t}{(1+r)^t} \quad \text{và} \quad R = \frac{\sum_{t=1}^n \frac{B_t}{(1+r)^t}}{\sum_{t=1}^n \frac{C_t}{(1+r)^t}}$$
Trong đó: $C_t$ là chi phí năm thứ $t$; $B_t$ là lợi ích thu được năm thứ $t$; $r$ là hệ số chiết khấu; $n$ là số năm tính toán.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở địa lý học của việc đánh giá tài nguyên cho mục đích phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững
Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cấu trúc cảnh quan và tài nguyên lãnh thổ. Tác giả luận giải việc lấy đơn vị cảnh quan làm đơn vị cơ sở cho đánh giá tài nguyên, bởi tính đồng nhất tương đối về nền tảng vật chất rắn (địa chất, địa mạo) và nền tảng nhiệt ẩm (khí hậu, thủy văn) sẽ quyết định tiềm năng sinh học và tính thích nghi của cây trồng, vật nuôi. Quy trình nghiên cứu và đánh giá tài nguyên phục vụ quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ A Lưới được thiết kế thành 5 bước tuần tự:
- Công tác chuẩn bị (xác định mục tiêu, đối tượng, phương pháp, kế hoạch);
- Thu thập số liệu (tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội, lao động);
- Nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ, phân loại và phân vùng cảnh quan;
- Đánh giá tổng hợp tài nguyên theo các đơn vị cảnh quan (đánh giá thích nghi, phân tích chi phí - lợi ích, đánh giá môi trường);
- Quy hoạch sử dụng lãnh thổ và định hướng phát triển bền vững. Tác giả phân tích các ưu nhược điểm của các phương pháp phân hạng (chủ quan, điều kiện giới hạn theo Liebig, làm mẫu, toán học) và khẳng định tính ưu việt của thuật toán trung bình nhân kết hợp công thức khoảng cách hạng của Aivasian.
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiềm năng tài nguyên ở lãnh thổ nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết các hợp phần tự nhiên và nhân văn của huyện A Lưới.
- Địa hình: Lãnh thổ phân hóa thành các dạng địa hình núi cao, núi trung bình, núi thấp, đồi chân núi, thung lũng giữa núi và bãi bồi ven sông suối (Bảng 2.1). Về tài nguyên lòng đất, điểm quặng Tà Lao cho thấy có tiềm năng vàng sa khoáng (Bảng 2.2).
- Khí hậu và thủy văn: Khí hậu mang tính chất chuyển tiếp Đông và Tây Trường Sơn với lượng mưa lớn, chế độ nhiệt - ẩm phân mùa (Bảng 2.3, 2.4, 2.5, 2.6). Mạng lưới thủy văn gồm các lưu vực sông suối có độ dốc lớn, lưu lượng dòng chảy tập trung trong mùa lũ (Bảng 2.7, 2.8, 2.9); tác giả cũng tính toán nhu cầu sử dụng nước thời kỳ 2000 - 2010 (Bảng 2.10).
- Thổ nhưỡng và rừng: Đất đai chủ yếu là đất feralit đỏ vàng phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau, đất mùn vàng đỏ trên núi, đất phù sa bãi bồi (Bảng 2.11, 2.12, 2.13). Tài nguyên rừng phong phú về trữ lượng gỗ tự nhiên và rừng trồng theo các cấp tuổi (Bảng 2.14, 2.15, 2.16, 2.17).
- Phân hóa cảnh quan: Tác giả xây dựng bản đồ cảnh quan huyện A Lưới, xác lập toàn huyện có 84 loại cảnh quan thuộc 7 tiểu vùng cảnh quan (Bảng 2.18, 2.19, 2.20, 2.21, 2.22).
- Kinh tế - xã hội: Dân số toàn huyện năm 2000 là 35.413 người, mật độ trung bình khoảng 30 người/km². Các dân tộc ít người gồm Tà Ôi, Cơ Tu, Bru - Vân Kiều chiếm trên 75% dân số (Bảng 2.23, 2.24). Đời sống sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 36%, trong đó có 12% hộ thiếu đói từ 1 - 3 tháng.
Chương 3: Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp ở huyện A Lưới
Chương 3 lượng hóa tiềm năng và mức độ thích nghi sinh thái của 84 loại cảnh quan đối với các loại hình sử dụng đất chính:
- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá được xây dựng dựa trên sự liên hợp giữa loại đất, tầng dày, độ dốc và thảm thực vật (Bảng 3.1, 3.2), đối chiếu với nhu cầu sinh thái của 5 nhóm sử dụng: lúa nước; hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày; cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả; đồng cỏ chăn nuôi; nông - lâm kết hợp (Bảng 3.3).
- Áp dụng bài toán trung bình nhân và công thức Aivasian, tác giả phân hạng và lập sơ đồ thích nghi cho từng nhóm cây trồng (Hình 3.1 đến 3.5, Bảng 3.4, 3.5, 3.6). Kết quả xác định: Trong 84 loại cảnh quan, có 16 loại cảnh quan tối ưu cho sản xuất nông nghiệp, 40 loại cảnh quan tối ưu cho lâm nghiệp, và 28 loại cảnh quan tối ưu cho nông - lâm kết hợp.
- Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường bằng các chỉ số $NPV$ và $R$ (Bảng 3.7).
- Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất định hướng khai thác tổng hợp tài nguyên huyện A Lưới theo 4 mô hình chức năng lãnh thổ (Bảng 3.8, Hình 3.6):
- Mô hình phòng hộ;
- Mô hình phòng hộ kết hợp kinh tế;
- Mô hình kinh tế kết hợp phòng hộ;
- Mô hình kinh tế thuần túy.
Chương 4: Định hướng sử dụng lãnh thổ cho phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững ở khu vực nghiên cứu
Chương này hiện thực hóa các kết quả đánh giá vào công tác tổ chức sản xuất, định canh định cư và quy hoạch cụ thể:
- Hiện trạng khai thác tài nguyên: Đánh giá lịch thời vụ (Bảng 4.1), năng lực các công trình thủy lợi (Bảng 4.2), phân bổ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 (Bảng 4.3), biến động diện tích và năng suất cây trồng (Bảng 4.4, 4.5), hiệu quả kinh tế cây trồng (Bảng 4.6), giá trị sản xuất lâm nghiệp (Bảng 4.7, 4.8), cơ cấu lao động theo ngành (Bảng 4.9).
- Quy hoạch thực nghiệm cụm xã A So (gồm các xã Hương Lâm, Đông Sơn, A Đớt): Bản đồ cảnh quan khu vực A So tỷ lệ 1/25.000 xác định 10 loại cảnh quan đặc trưng (Bảng 4.10). Dự báo dân số năm 2010 là 967 hộ (tăng 185 hộ so với năm 2000) (Bảng 4.12). Tác giả quy hoạch chi tiết hệ thống giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế (Bảng 4.13) và phân chia không gian thành 6 cụm dân cư cùng các điểm xen ghép, có khả năng tiếp nhận bổ sung 345 hộ (Bảng 4.14):
| Điểm dân cư |
Lúa nước (ha) |
Màu, CNNN (ha) |
Chăn nuôi trâu bò (con) |
Quy mô dân số hiện có (hộ) |
Nhu cầu bổ sung (hộ) |
| Cụm 1: Giữa khe Trai và khe Triết |
40 - 50 |
100 - 120 |
250 - 300 |
125 |
- |
| Cụm 2: Giữa khe Triết và Tam Lanh |
- |
140 - 160 |
350 - 400 |
140 |
- |
| Cụm 3: Khu vực gần cầu A Sáp |
50 - 70 |
100 - 120 |
- |
100 |
- |
| Cụm 4: Giữa khe Parê và khe Trai |
- |
180 - 200 |
250 - 300 |
120 |
- |
| Cụm 5: Gần đập Latinh (A Đớt) |
- |
110 - 130 |
250 - 300 |
130 |
- |
| Cụm 6: Dọc đường cách TT 1,5 km |
- |
110 - 120 |
85 |
74 |
200 |
| Xen ghép vào các điểm dân cư có sẵn |
70 - 95 |
20 - 50 |
- |
100 |
145 |
| Tổng cộng |
160 - 215 |
660 - 780 |
1.300 - 1.500 |
789 |
345 |
- Thực trạng và tổ chức định canh định cư: Tác giả phân tích cơ chế du canh đường tròn (chu kỳ bỏ hóa 10 - 15 năm cho phép phục hồi rừng, có thể xem là bền vững trong điều kiện dân số thấp) và du canh đường thẳng (bóc lột kiệt quệ tài nguyên, cần xóa bỏ hoàn toàn). Đánh giá 4 hình thức định canh định cư tại A Lưới:
- Định canh định cư tại chỗ kết hợp hợp tác hóa;
- Gắn với vùng kinh tế mới (Phú Vinh, Hồng Nam);
- Kết hợp với lâm trường (Hương Nguyên, Hồng Hạ, Hương Lâm);
- Kết hợp với quốc phòng biên giới (Hồng Vân).
Giai đoạn 1995 - 2000, huyện thực hiện 9 dự án, giải quyết định canh định cư cho 1.418 hộ với kinh phí đầu tư khoảng 2 tỷ đồng/năm (lâm nghiệp chiếm 42%) (Bảng 4.15).
- Xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông hộ: Khảo sát 146 hộ tại 15 xã ghi nhận 16 kiểu mô hình kinh tế gia đình dựa trên tổ hợp các yếu tố: ruộng (Rg), vườn (V), ao (A), chuồng (C), nương (N), rừng (R), tiểu thủ công nghiệp (TCN), dịch vụ (Q), khai thác lâm sản (KTLS) (Bảng 4.16).
- Thiết kế mô hình trên đất dốc: Đỉnh đồi trồng quế xen keo lá tràm; sườn trên trồng cây ăn quả (chuối, dứa, hồng xiêm, mận tam hoa); sườn giữa và sườn dưới trồng cây ngắn ngày (lạc, ngô, đậu); chân sườn trồng lúa và đào ao cá.
- Thiết lập băng cây xanh chống xói mòn theo đường đồng mức: Trồng 2 hàng dứa cách nhau 0,6 m kết hợp hàng cốt khí; tổng chiều rộng băng là 1,2 m; khoảng cách giữa các băng là 20 m.
- Địa hình núi cao: Phát triển cây quế (8 tuổi cho vỏ thương phẩm, 10 tuổi cho thu hoạch trên 3 tấn vỏ/ha), cây trầm hương, kết hợp chăn nuôi đại gia súc (bò, dê).
Kết quả và những đóng góp mới
Hai luận điểm bảo vệ của luận án tóm lược các kết quả khoa học cốt lõi:
- Luận điểm 1: Sự phân hóa về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ở A Lưới là hệ quả của mối tương tác phức tạp giữa hệ thống hoàn lưu khí quyển với địa hình, được biểu hiện qua sự phân hóa của lớp phủ thổ nhưỡng và thảm thực vật, tạo ra 84 loại cảnh quan nằm trong 7 tiểu vùng cảnh quan với tiềm năng tài nguyên phong phú và đa dạng.
- Luận điểm 2: Trong 84 loại cảnh quan ở A Lưới, qua đánh giá đã xác định tối ưu cho sản xuất nông nghiệp là 16 loại, cho lâm nghiệp là 40 loại và cho phát triển nông - lâm kết hợp là 28 loại. Trên quan điểm phát triển bền vững, huyện A Lưới cần sử dụng lãnh thổ theo 4 mô hình với các chức năng chính là: phòng hộ; phòng hộ + kinh tế; kinh tế + phòng hộ và kinh tế.
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Làm sáng tỏ quy luật phân hóa lãnh thổ và quy trình hình thành các đơn vị cảnh quan tại vùng núi mang tính chất chuyển tiếp giữa Đông và Tây Trường Sơn với chế độ mưa mùa đặc thù. Đóng góp vào phương pháp luận cảnh quan ứng dụng qua việc vận dụng bài toán trung bình nhân để khắc phục hiện tượng bù trừ sai lệch của các chỉ tiêu sinh thái giới hạn, kết hợp thuật toán phân hạng khách quan của Aivasian.
- Về thực tiễn: Lần đầu tiên nghiên cứu tổng thể, đồng bộ điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội để xây dựng bản đồ cảnh quan toàn huyện A Lưới tỷ lệ 1/50.000 và bản đồ cảnh quan khu vực A So tỷ lệ 1/25.000. Xây dựng sơ đồ quy hoạch chi tiết 6 cụm dân cư khu định canh định cư và kinh tế mới A So đến năm 2010. Đề xuất hệ thống 16 kiểu mô hình kinh tế nông hộ sinh thái và quy cách thiết kế băng cây xanh chống xói mòn trên đất dốc.
Hệ thống kiến nghị và giải pháp do luận án đề xuất:
- Thực hiện quy hoạch tổng thể cấp huyện, tổ chức định canh định cư theo 3 bước và 4 hình thức phù hợp với phong tục tập quán của từng tộc người tại chỗ.
- Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây trồng, kỹ thuật chăn nuôi nhốt chuồng, nông - lâm kết hợp và chế biến nông lâm sản vào cộng đồng thôn bản; tập huấn cho đội ngũ già làng, trưởng bản và khuyến nông viên.
- Huy động vốn đầu tư ước tính khoảng 20 tỷ đồng/năm để hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế, trường học và hỗ trợ sản xuất.
- Điều chỉnh chính sách đất đai, thực hiện di giãn dân nội bộ, hỗ trợ các hộ sở hữu nhiều đất nhượng lại tư liệu sản xuất cho các hộ mới đến để sớm ổn định định canh định cư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ theo các giới hạn được tác giả ghi nhận trong văn bản:
- Về phạm vi tài nguyên: Luận án chỉ tập trung đi sâu đánh giá các tài nguyên phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông, lâm nghiệp gồm đất, nước, khí hậu, rừng và lao động. Các dạng tài nguyên khác như tài nguyên khoáng sản lòng đất, tài nguyên du lịch chỉ được đề cập khái quát ở mức độ kiểm kê ban đầu.
- Về phạm vi quy hoạch chi tiết: Bản đồ quy hoạch tổng thể và các phương án phân bố cụm dân cư chi tiết mới chỉ thực hiện thí điểm tại khu vực cụm xã A So (gồm 3 xã: Hương Lâm, Đông Sơn, A Đớt). Việc thiết kế quy hoạch chi tiết chưa thể phủ kín toàn bộ 21 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện.
- Về cỡ mẫu điều tra xã hội học: Khảo sát thực địa kinh tế hộ gia đình được tiến hành trên 146 hộ thuộc 15 xã; việc mở rộng quy mô điều tra để phản ánh chi tiết hơn các biến động kinh tế nông hộ trong toàn bộ các thôn bản vùng sâu còn bị giới hạn bởi điều kiện giao thông đi lại hiểm trở thời điểm nghiên cứu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục triển khai nghiên cứu quy hoạch chi tiết và xây dựng bản đồ cảnh quan tỷ lệ lớn cho các cụm xã còn lại ở phía Bắc và Đông Bắc huyện A Lưới; theo dõi, kiểm chứng thực nghiệm hiệu quả kinh tế - sinh thái lâu dài của mô hình băng cây xanh chống xói mòn và các mô hình nông hộ trên đất dốc qua chu kỳ sản xuất hàng năm.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ rệt cho các nhóm đối tượng học thuật và quản lý:
- Đối với nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và giảng viên: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về cảnh quan học ứng dụng, đặc biệt là quy trình áp dụng bài toán trung bình nhân trong đánh giá thích nghi sinh thái cảnh quan và kỹ thuật phân hạng Aivasian. Chương 1 và Chương 3 là tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên ngành Địa lý tự nhiên, Cảnh quan học, Quản lý tài nguyên và Môi trường.
- Đối với nhà quản lý và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp nguồn số liệu cơ bản, đáng tin cậy về tiềm năng tài nguyên khí hậu, đất đai, thủy văn, rừng và cơ cấu nhân khẩu học huyện A Lưới. Chương 4 là cẩm nang thực tiễn cho Chi cục Định canh định cư và Kinh tế mới, Phòng Nông nghiệp, Hạt kiểm lâm và Ủy ban nhân dân huyện A Lưới trong việc phân bổ vốn đầu tư, quy hoạch giao đất giao rừng và bố trí các điểm tái định cư.
- Đối với cán bộ khuyến nông, khuyến lâm: Mô hình kỹ thuật canh tác chống xói mòn bằng băng cây xanh (dứa kết hợp cốt khí theo đường đồng mức) và tập đoàn cây trồng nông - lâm kết hợp (quế, keo lá tràm, cây ăn quả, cây họ đậu) là tài liệu hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật trực tiếp cho người dân vùng cao canh tác trên đất dốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định có bao nhiêu loại cảnh quan và bao nhiêu tiểu vùng cảnh quan trên địa bàn huyện A Lưới?
Luận án đã xác định toàn huyện A Lưới có 84 loại cảnh quan phân bố trong 7 tiểu vùng cảnh quan. Qua đánh giá mức độ thích nghi sinh thái, tác giả phân định: 16 loại cảnh quan tối ưu cho sản xuất nông nghiệp, 40 loại cảnh quan tối ưu cho phát triển lâm nghiệp, và 28 loại cảnh quan thích hợp cho phương thức nông - lâm kết hợp.
2. Tác giả sử dụng công thức toán học nào để đánh giá thích nghi cảnh quan và tại sao không dùng bài toán cộng tuyến tính truyền thống?
Tác giả sử dụng bài toán trung bình nhân (nhân điều hòa):
$$M_0 = \sqrt[n]{a_1 \cdot a_2 \dots a_n}$$
Lý do không dùng bài toán cộng tuyến tính ($\sum K_i \cdot B_i$) vì việc xác định trọng số $K_i$ đòi hỏi thí nghiệm thực địa nhiều năm; nếu chưa đủ cơ sở xác định $K_i$, bài toán cộng sẽ gây ra hiện tượng bù trừ sai lệch (ví dụ: một chỉ tiêu đạt 3 điểm và một chỉ tiêu giới hạn 1 điểm sẽ cho kết quả trung bình cộng bằng với trường hợp cả hai chỉ tiêu đạt 2 điểm, không phản ánh đúng quy luật nhân tố tối thiểu của Liebig trong nông nghiệp). Thang phân hạng được xác lập bằng công thức Aivasian (1983): $S = (S_{max} - S_{min}) / (1 + \lg H)$.
3. Khu vực quy hoạch thí điểm A So gồm những xã nào và dự kiến bố trí không gian dân cư ra sao đến năm 2010?
Khu vực A So gồm 3 xã: Hương Lâm, Đông Sơn và A Đớt. Luận án quy hoạch không gian A So thành 6 cụm dân cư tập trung và một khu vực xen ghép, với tổng quy mô khai thác 160 - 215 ha lúa nước, 660 - 780 ha hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi 1.300 - 1.500 con trâu bò; đáp ứng ổn định cho 789 hộ hiện có và tiếp nhận bổ sung thêm 345 hộ mới đến năm 2010.
4. Bốn hình thức tổ chức định canh định cư được tổng kết và áp dụng tại huyện A Lưới là những hình thức nào?
Bốn hình thức gồm:
- Tổ chức định canh định cư tại chỗ kết hợp với hợp tác hóa;
- Tổ chức định canh định cư kết hợp với việc xây dựng vùng kinh tế mới (điển hình tại xã Phú Vinh và Hồng Nam);
- Tổ chức định canh định cư kết hợp với lâm trường (thực hiện tại Hương Nguyên, Hồng Hạ, Hương Lâm do Lâm trường A Lưới làm chủ dự án);
- Tổ chức định canh định cư kết hợp với quốc phòng biên giới (gắn với các đồn biên phòng, điển hình tại xã Hồng Vân).
5. Quy cách kỹ thuật của băng cây xanh chống xói mòn trên đất gò đồi được luận án đề xuất cụ thể như thế nào?
Băng cây xanh được thiết kế chạy dọc theo đường đồng mức; trồng 2 hàng dứa cách nhau 0,6 m, kế tiếp là hàng cây cốt khí; toàn bộ bề rộng của băng cây xanh là 1,2 m và khoảng cách giữa các băng cách nhau khoảng 20 m. Băng cây xanh này kết hợp với mô hình đỉnh đồi trồng quế xen keo, sườn đồi trồng cây ăn quả và cây màu ngắn ngày để bảo vệ đất dốc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hà Văn Hành là công trình nghiên cứu địa lý học ứng dụng toàn diện về huyện vùng cao biên giới A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khảo sát thực địa, giải đoán bản đồ cảnh quan, điều tra nông hộ PRA và các thuật toán đánh giá định lượng (trung bình nhân, công thức Aivasian, phân tích chi phí - lợi ích), tác giả đã phân loại thành công 84 loại cảnh quan và phân hạng thích nghi cho các mục đích nông, lâm nghiệp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho phương án quy hoạch thực nghiệm cụm xã A So, tổng kết 4 hình thức định canh định cư và đề xuất 16 kiểu mô hình kinh tế nông hộ sinh thái trên đất dốc. Đây là nguồn tư liệu có giá trị khoa học và thực tiễn cao cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bảo vệ môi trường tại các huyện miền núi miền Trung Việt Nam.