phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương: Chương |: Cơ sở địa lý học của việc đánh giá tài nguyên cho mục dich phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững. Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiém năng tài nguyên ở lãnh thổ nghiên cứu. Chương 3: Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp ở huyện A Lưới. Chương 4: Định hướng sử dụng lãnh thổ cho phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững ở khu vực nghiên cứu.
Luận án được trình bày trong 151 trang với 50 bảng số liệu, 20 sơ đồ và bản đồ, 138 tài liệu tham khảo. Ngoài ra, phần phụ lục của luận án còn có 17 bảng số liệu và 8 ảnh minh họa. CHUONG | CƠ SỬ DIA LÝ HOC CUA VIỆC ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN &. ở af CHO MỤC DICH PHAT TRIEN HINH TE NONG, LAM NGHIEP BEN VUNG 1.
TONG QUAN CAC VAN ĐỀ LIEN QUAN ĐẾN NGHIÊN CUU VA ĐÁNH GIA TÀI NGUYEN 1. Một số vấn dé cơ bản về tài nguyên 1.1 Khái niệm về tài nguyên Sự phát triển KT - XH và cuộc sống của con người ở kháp mọi nơi đều phụ thuộc vào các nguồn TN thiên nhiên. Ngay từ thời tiền sử, con người đã có những hoạt động khai thác TN thiên nhiên để tồn tại, phát triển và cải thiện điều kiện sống của mình. Mot số kinh nghiệm và biện pháp thiết thực để ngăn ngừa những tác dong xấu của nhân loại trong việc khai thác TN thiên nhiên đã được dúc kết và truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác dưới dạng phong tục, tín ngưỡng.
Mặc dù sự hiểu biết còn hạn chế, nhưng những biểu hiện về bảo vệ TN thiên nhiên và môi trường trước đây là rất đáng trân trọng và đã góp phần duy trì môi trường sinh thái khá ổn dịnh trong hàng ngàn nam nay, Trong xã hội công nghiệp, với sự phát triển của kinh tế con người đã tác dong mạnh mẽ vào TN thiên nhiên và MT, can thiệp một cách trực tiếp và nhiều khi thô bạo đến tự nhiên. Sự bùng nổ dân số và cách mạng khoa học - kỹ thuật đã tao nên những nhu cầu to lớn cũng như khả năng khai thác TN thiên nhiên. Trong vòng vài chục nam trở lại dây, loài người đã khai thác một lượng TN ước tính bằng vài tram năm trước đó. Với tốc độ khai thác như vậy thì sẽ làm cho nhiều loại TN có nguy cơ cạn kiệt củi trong vài thập niên tới.
Tài nguyên bao gồm tất ca các nguồn vá liệu (materials), năng lượng (energy), thông tin (information) có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình. Tuy nhiên, ranh giới giữa TN va không phải TN cũng không rõ ràng. Nang lượng gió, năng lượng thủy triều được gọi là TN nhưng những cơn gió lốc, gió xoáy, 10 những đợt triều cường phá hủy nhà cửa, ruộng vườn. thì chúng ta coi là thiên tú.
Ngoài ra, một dạng vật chất, năng lượng hoặc thông tin trong thời kỳ này chưa được coi là TN, nhưng trong tương lai có thể trở thành TN quý giá.2 Các loại tài nguyên Tài nguyên được phân thành, TN thiên nhiên - gan liền với các nhân tổ tự nhiên và TN nhàn văn - gắn liền với các nhân tố con người và xã hội. Tài nguyên thiên nhiên là những hợp phần của tổng hợp các ĐKTN của sự tồn tại xã hội loài người và các hợp phần quan trọng của môi trường tự nhiên bao quanh được sử dụng trong quá trình sản xuất để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thân của xã hội (Từ điển Bách khoa Xô Viết - 1987). Trong sử dụng cu thể, tài nguyên thiên nhiên được phân theo dang vật chat của nó như: TN đất, TN nước, TN khí hậu, TN khoáng sản, TN rừng, TN biển. Các tài nguyên nhân văn được phân thành: TN lao động, TN thông tin, TN trí tuệ.
Cùng với sự phát triển của xã hội, các tài nguyên nhân văn, đặc biệt là tài nguyên trí tuệ ngày càng được coi trọng. Khái niệm “kinh tế tri thức” chang còn xa lạ gì trong giai đoạn hiện nay, khi mà vai trò của chất xám đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng va phát triển nền kinh tế. Tình trang “chảy máu chất xám” đã làm gia tăng khoảng cách giữa các quốc gia về trình độ phát triển và làm cho các nước nghèo càng trở nên khó khăn hơn. Tùy theo khả năng phục hồi, tái tạo mà có thể phân TN thành hai loại: TN tái tạo được và TN không tái tạo được.
- Tài nguyên tái tạo được (renewable resources) là những TN có thể cung cấp liên tục và vô tận như: năng lượng mặt trời, năng lượng dòng chảy, năng lượng: gió, năng lượng thủy triều, hoặc được cung cấp liên tục cho quá trình tiến hoá như TN sinh học. Dưới góc độ bảo vệ MT, tài nguyên tái tạo được là những TN có thể duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách khôn ngoan. - Tài nguyên không tái tao được (unrenewable resources) là những TN tồn tại một cách hữu hạn, sẽ cạn kiệt và mất di như: các loại khoáng sản, nhiên liệu khoáng. hoặc có thể bị biến đổi và mai một đi, không truyền lại cho thế hệ đời sau những tính chất ban đầu như các thông tin di truyền (gen) của sinh vật quý hiếm.
1] Tuy nhiên, sự phân biệt giữa TN tái tạo được va TN không tái tạo được chỉ có ý nghĩa tương đối. Về lý thuyết, sau quá trình hàng trăm triệu năm các loại khoáng sản có thể phục hồi, tái tao lại được và ngược lại các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt dới nếu mất đi sẽ rất khó có khả năng phục hồi nguyên dạng.3 Chiến lược sử dụng tài nguyên và xây dung xã hội phát triển bền vững - Phát triển: Phát triển muốn nói ở đây là phát triển KT - XH, đó là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt dong văn hoá. Phát triển là xu hướng tự nhiên của mỗi cá nhân hoặc cộng đồng con người. Đối với một quốc gia, quá trình phát triển trong một giai doan cụ thể nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định về mức sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân cũng như sức mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự của quốc gia đó.
Các mục tiêu này thường được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu KT - XH và dược thực hiện bằng các hoạt dong phát triển. Nhưng các hoạt động phát triển này thường là nguyên nhân gây nên việc sử dụng không hợp lý, làm lãng phí TN thiên nhiên và giảm sút chất lượng MT. - Phát triển bền vững: Nam 1987 lần dau tiên khái niệm PTBV được dé cập đến trong các văn bản báo cáo “Tương lai của chúng ta” tại Hội đồng thế giới về PTBV họp ở Brundland (WCED, 1987). Đó chính là sự “phát triển bền vững” dang được mọi quốc gia trên thế giới nói đến.
Phát triển bền vững là sử dụng TN thiên nhiên, điều kiện MT hiện có để thoả mãn nhu cầu của các thế hệ con người dang sống, nhưng lại phải đảm bao cho các thế hệ tương lai những điều kiện TN với MT cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày nay. - Chiến lược của sựphát triển bền vững: Việc khai thác, sử dụng các nguồn TN lãnh thổ một cách hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các thế hệ và phát triển lâu bền là nhiệm vụ rất quan trọng và vô cùng bức thiết hiện nay. Con người phải biết sử dung các dang TN trong giới han và khả năng ma các TN đó có được, đồng thời phải xây dựng một xã hội PTBV dựa trên các cơ sở sau đây: - Bảo vệ sự trong sạch, ổn định của MT; nâng cao nhận thức và chất lượng sống của con người. 12 - Bảo tồn đa dạn g sin h học tro ng mọi khí a cạn h, mọi mức độ trên cơ sở qua n lý và sử dụng hợp lý; duy trì các hệ sinh thái thiết yếu và các hệ hỗ trợ, đảm báo cho cuộc sống lâu dài của cộng đồng.
Mối liên hệ giữa tài nguyên với cấu trúc cảnh quan Mối liên hệ giữa TN với các hợp phần tạo nên cấu trúc các đơn vi CQ thể hiện ở sự tương đồng giữa các yếu tố tự nhiên và con người thông qua các hoạt động phát triển KT - XH. Mỗi một đơn vị CQ luôn hàm chứa những đặc thù, những tiềm năng TN tự nhiên và tương ứng với chúng là các hoạt động khai thác của con người. Đây cũng chính là cơ sở để tổ chức quản lý và khai thác hệ thống lãnh thổ. Mặt khác, để thấy rõ sự tương đồng chặt chẽ giữa các loại TN và các yếu tố cấu trúc CQ có thé làm một sự so sánh như ở bảng 1.1: So sánh các yếu tố cấu thành tài nguyên với cấu trúc cảnh quan.
Cấu trúc cảnh quan Địa chất và - Nền tảng rắn. Khí hậu và - Tài nguyên khí hậu. én tang nhiệt ẩm. - TN nước mặt và nước ngầm.
Thổ nhưỡng | - Tài nguyên đất. - Đỉnh dưỡng đất và vật và sinh vat. - Tài nguyên động, thực vật. Con người.
- Tài nguyên lao động.1 có thể rút ra một số nhận xét sơ bộ sau: - Các hợp phần cấu trúc tạo nên các đơn vị CQ vừa là nơi diễn ra các quá trình hoạt động KT - XH, vừa là TN - đối tượng để khai thác sử dụng. Ngược lại, TN là các nhân tố, là các chất liệu để tạo nên tiểm năng sản xuất của CQ. Tính tương đồng ở đây bắt nguồn từ quy luật hình thành nên các đơn vị lãnh thổ dịa lý. - Ở các nhóm tổ hợp những yếu tố tự nhiên (1, 2 và 3) thì hầu như các loại TN va các yếu tố tự nhiên cấu trúc nên các đơn vị CQ có độ tương đồng cao hơn.
- Đến yếu tố con người, một hợp phần của cấu trúc CQ thì TN lao động là sản phẩm của quá trình vận động, phát triển của dân cư, đồng thời yếu tố nhân tác trong cấu trúc CQ lại là sản phẩm của chính TN lao động trên lãnh thổ dó. Các phư ơng phá p đán h giá và quy trì nh ngh iên cứu , đán h giá tài ngu yên 1.