Mở đầu: nêu lên tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. - Phần II: Nội dung nghiên cứu Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái. Kết luận Cuối cùng là tài liệu tham khảo, phần phụ lục. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa 1. Khái niệm về đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị sinh thái Khái niệm về Đất: Đất theo nghĩa thổ nhƣỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian. Giá trị tài nguyên đất đƣợc đánh giá bằng số lƣợng diện tích (ha, km 2) và độ phì nhiêu, màu mỡ. Đất đai đƣợc nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hƣởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhƣỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biết đổi của đất do các hoạt động của con ngƣời. Về mặt đời sống – xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất không gì thay thế đƣợc của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bổ khu dân cƣ, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng [Luật đất đai 1993]. Nhƣng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian. Khái niệm về đất nông nghiệp Theo Luật Đất Đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013, đất đai của Việt Nam chia ra làm ba nhóm đất là nhóm đất Nông nghiệp, nhóm đất Phi nông nghiệp và nhóm đất chƣa sử dụng.
Trong đó, nhóm đất Nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: + Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác. + Đất trồng cây lâu năm. + Đất rừng sản xuất. + Đất rừng phòng hộ.
+ Đất rừng đặc dụng. + Đất nuôi trồng thủy sản. 4 z + Đất làm muối. + Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác đƣợc pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ƣơm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.
Theo đó, Đất Nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác. Khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái. Theo (Lê Quý Đôn 2005) sản xuất nông nghiệp vốn đã mang trong nó bản chất sinh thái, sản xuất nông nghiệp muốn phát triển có hiệu quả và ổn định đƣơng nhiên phải phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn, môi trƣờng và quần thể sinh vật tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp.
Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật nuôi phát huy mọi ƣu thế và tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền nông nghiệp sinh thái. Nhiều học giả cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính là nông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp sinh thái hay bền vững đều mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Nhƣng ngƣợc lại, một nền sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, chƣa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững nếu nhƣ nó không có tác động đến bảo vệ môi trƣờng sinh thái. “ Nông nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị là một ngành công nghiệp mà sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặt nƣớc xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô” (UNDP).
Nông nghiệp đô thị nói một cách đơn giản bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp từ sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nằm xen kẽ trong đô thị và các vùng ven đô. Khái niệm này có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ và phi lãnh thổ của một đô thị. Sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) diễn ra trong các quận gọi là nông nghiệp nội đô, diễn ra ở ngoại thành thì gọi là nông nghiệp ngoại đô. Điều này dẫn đến đặc điểm sự khác biệt giữa nông nghiệp nội đô, nông nghiệp giáp ranh, nông nghiệp ngoại đô hay ngoại thành.
5 z Nông nghiêp đô thị sẽ đƣợc phân chia theo các vành đại khác nhau do tính chất và đặc thù của nó. Có thể phân chia theo khu vực dƣới đây: + Nông nghiệp nội đô. + Nông nghiệp vùng vành đai nhạy cảm. + Nông nghiệp ngoại đô (ngoại thành).
Do đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội và môi trƣờng của mỗi vùng khác nhau, cho nên sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng cũng khác nhau, chính điều đó hình thành tính đa dạng của nông nghiệp đô thị. Kế thừa các công trình nghiên cứu của học giả Lê Quý Đôn nêu ra khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái nhƣ sau: “ Nông nghiệp đô thị sinh thái là một quá trình sản xuất đƣợc bố trí phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng đô thị nhằm khai thác triệt để các tiềm năng với công nghệ sản xuất sạch tạo ra sản phẩm chất lƣợng cao, an toàn thực phẩm, nâng cao chất lƣợng môi trƣờng, cảnh quan tạo ra hệ sinh thái bền vững”. Khái niệm nêu ra các nội dung chủ yếu: + Sản xuất nông nghiệp đƣợc bố trí và sản xuất phù hợp với điều kiện của mỗi vùng, tạo ra sự tác động hữu cơ, đảm bảo cân bằng sinh thái, đạt hiệu quả sản xuất cao. + Quá trình sản xuất nông nghiệp trên diễn ra ở vùng xen kẽ, hay tập trung các vùng đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô.
+ Sản xuất nông nghiệp trên tạo ra mối quan hệ hữu cơ trong ngành và đảm bảo sự cân bằng sinh thái, tính hiệu quả và bền vững. Đồng thời tác động tich cực đến cải tạo môi trƣờng sinh thái của vùng đô thị. + Sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm chất lƣợng cao, đảm bảo an toàn thực phẩm, giữ gìn sức khỏe và nhu cầu cho ngƣời tiêu dùng.2 Đặc điểm nông nghiệp khu vực đô thị hóa Đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa ngày càng giảm thay vào đó là khu vực đất phi nông nghiệp, đất dịch vụ tăng với tốc độ lớn. Quá trình đô thị hóa hiện nay gắn liền với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phản ánh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ, thu hẹp nông nghiệp.
Sự hình thành trên địa bàn ven đô thị những khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới, khu tái định cƣ,…đã nâng cao giá trị sử dụng đất đai, làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao giá trị lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ khá cao theo hƣớng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, 6 z chất lƣợng, hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, nhiều khu công nghiệp, dịch vụ đƣợc xây dựng trên địa bàn ven đô, nhƣng chỉ có một số ít các doanh nghiệp phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp. Phần lớn nông sản đƣợc sản xuất ra ở khu vực ven đô có giá trị tăng gia thấp, lợi ích từ các sản phẩm nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Một vấn đề đang diễn ra, đó là diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở vùng ven đô ngày càng giảm để dành quỹ đất xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới.
Nông nghiệp khu vực đô thị hóa góp phần giảm chi phí đóng gói, lƣu trữ và vận chuyển sản phẩm để cung ứng cho khu vực đô thị hóa và khu vực nội thành. Sản xuất nông nghiệp đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu về lƣơng thực, rau quả và các loại sản phẩm nông nghiệp khác một cách trực tiếp cho dân cƣ tại khu vực đô thị hóa thay vì phải vận chuyển từ nơi khác đến. Các chi phí đóng gói, lƣu trữ và vận chuyển nông sản phẩm nhờ đó giảm chi phí đáng kể, tạo điều kiện tiết kiệm trong tiêu dùng ở khu vực đô thị hóa. Sản phẩm nông nghiệp khu vực đô thị hóa khi cung cấp cho khu vực nội đô sẽ chênh lệch khá nhiều so với bán ngay tại khu vực trồng vì sẽ chịu nhiều loại phí tăng thêm nhƣ phí vận chuyển, công sức lao động, và tiền lãi tăng thêm do bán trong khu vực đô thị.
Ngƣợc lại, khi bán tại khu vực nuôi trồng, giá cả sẽ đƣợc giảm đi đáng kể do sản phẩm không gánh nhiều loại chi phí tăng thêm. Nhờ vậy, ngƣời nghèo có nhiều cơ hội để có thể sử dụng các sản phẩm nông nghiệp khu vực đô thị hóa. Nông nghiệp khu vực đô thị hóa có khả năng cung ứng các sản phẩm tƣơi sống cho khu vực ven đô và đô thị. Khoảng cách từ khu vực nội đô với khu vực đô thị hóa không lớn nên ngƣời dân đô thị có khả năng tiếp cận với nguồn thực phẩm tƣơi sống, an toàn, góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cƣ đô thị.
Trong quá trình đó, do việc phải vận chuyển mà không đóng gói làm cho sản phẩm dễ bị ảnh hƣởng, hƣ hỏng. Ngƣời tiêu thụ sản phẩm nên xem xét kỹ trƣớc khi sử dụng sản phẩm. Trồng trọt và chăn nuôi trong khu vực đô thị hóa ảnh hƣởng lớn tới môi trƣờng và sức khỏe của con ngƣời do các quá trình thực hiện không đúng quy trình, kỹ thuật và không đảm bảo an toàn về các tiêu chuẩn nuôi trồng.