chương 1, Luật Du lịch của Việt Nam 2017 thì tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các gia tri van hoa làm cơ sở dé hinh thanh san pham du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Các đặc tính của tài nguyên du lịch: Nguồn tài nguyên du lịch vô cùng đa dạng và phong phú, mang tới nhiều tải nguyên ấn tượng, độc đáo có sức thu hút cực kì lớn cho du khách. Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị hữu hình mà nó còn sở hữu cả giá trị vô hình. Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch đã được thê hiện thông qua giá trị về chiều sâu của lịch sử, văn hóa.
Đồng thời nó phụ thuộc vào khả năng nhận thức cũng như đánh ø1á của các du khách. Tài nguyên đu lịch mang tính chất sở hữu chung. Bởi bất kì công dân nào cũng sẽ có quyền được tham gia thâm định, thưởng thức các giá trị của tài nguyên du lịch. Đồng thời doanh nghiệp du lịch nào cũng có quyền khai thác về tài nguyên du lịch.
Thời gian khai thác tải nguyên du lịch là khác nhau. Có những loại tài nguyên có khả năng khai thác quanh năm, chăng hạn như tải nguyên nhân văn bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, bảo tảng. - 8 đặc trưng của tài nguyên du lịch: Một là, tài nguyên du lịch rất đa dạng. Tài nguyên du lịch tự nhiên: Địa hình (Việt Nam có đường bờ biển dài với 125 bãi biển đẹp có thê khai thác xây dựng các khu du lịch và nghỉ đưỡng, địa hình đa dạng tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên độc đáo hấp dẫn khách du lịch), khí hậu, nước, sinh vật Tài nguyên du lịch văn hóa: di tích, lễ hội, làng nghề, văn nghệ dân gian, âm thực.
Hai là, tài nguyên du lịch có tính hấp dẫn. Đây là đặc trưng bản chất nhất của tài nguyên du lịch. Ba là, tài nguyên du lịch có tính độc quyền. Dù là tải nguyên tự nhiên hay văn hoá, chúng đều có đặc tính riêng và là yếu tố riêng có, yếu tố đặc thù của một vùng đất nào đó.
Tính đặc thù cảng cao thì sức hấp dẫn của chúng cảng lớn. Bon la, tai nguyên du lịch có tính mùa vụ. Đặc điểm nay bi chi phối bởi điệu kiện địa hình, vị trí địa lý. Năm là, tài nguyên du lịch là không thể đi chuyên về vị trí địa lý.
Trên thực tế, tại một số nơi, đề tăng thêm sự hấp dẫn khách du lịch, người ta mô phỏng một số tài nguyên cụ thể nảo đó. Tuy nhiên, các công trình mô phỏng hoặc các tác phẩm nghệ thuật được tái hiện không thê có giá trị như tài nguyên gốc và khong thé thay thế được tài nguyên gốc. Sáu là, tài nguyên du lịch có đặc tính dễ bị tốn thất do các yếu tố khách quan và chủ quan (tác động của mưa, bão, lụt, độ âm không khí hoặc sự tàn phá cua con ngudi.) Bảy là, tài nguyên du lịch có tính biến hoá, thay đối trong quá trình phát triển chung của xã hội. Đặc điểm nay duoc thể hiện rõ đối với tài nguyên văn hoá vô hình Tám là, tài nguyên du lịch có thé là kết quả của lao động sáng tạo.
Các tài nguyên du lịch mới có thế được hình thành và phát triển theo trình độ khoa học công nghệ, phát triên kinh tế của một quốc gia, một vùng nào đó. Phân loại tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên vả tải nguyên du lịch văn hóa. - Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch văn hóa gôm truyền thông văn hóa, các yêu tô văn hóa, văn nghệ dân øian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cô, kiên trúc, các công trinh lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thê, phi vật thê khác có thê được sử dụng phục vụ mục đích du lịch 1.
Kinh doanh du lịch. Khái niệm kinh doanh du lịch ® Về bản chất, hoạt động kinh doanh du lịch là tong hòa mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế của hoạt động du lịch, hình thành trên cơ sở phát triển đầy đủ sản phẩm hàng hóa du lịch và quá trình trao đôi mua và bán hàng hóa du lịch trên thị trường. ® Sự vận hành kinh đoanh du lịch là lấy tiền tệ làm môi giới, tiến hành trao đổi sản phâm du lịch giữa người mua (du khách) và người bán (nhà kinh doanh du lịch), sự vận hành này lay vận động mâu thuẫn gitra hai mat cung cấp và nhu cầu du lich làm đặc trưng chủ yếu. ® Trone điều kiện thị trường, việc thực hiện thông suốt hoạt động kinh doanh du lịch được quyết định bởi sự điều hòa nhịp nhàng giữa hai đại lượng cung và cầu du lịch.
® Khác với các loại hàng hóa thông thường sản phẩm hàng hóa trao đôi giữa hai bên cung cầu trong du lịch không phải là vật cụ thê, cái mà du khách có được là sự cam giac, thé nghiệm hoặc hưởng thy, vi thế trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, giao lưu hàng hóa và giao lưu vật là tách rời nhau. > Vậy ta rút ra được kết luận sau: Sự trao đổi sản phâm du lịch và tiền tệ do hai bên cung cầu du lịch tiến hành không làm thay đổi quyền sở hữu sản pham du lịch, trong quá trình chuyên đôi cũng không xảy ra sự chuyến dịch sản phâm, du khách chỉ có quyền chiếm hữu tạm thời sản phâm du lịch tại nơi du lịch. Các loại hình kinh doanh du lịch: 1. Kinh doanh lưu trú, ăn uống a.
Kinh doanh lưu trú: ® Theo nghĩa hẹp, kinh doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê buồng ngủ của một cơ sở lưu trú du lịch. ® Theo nphĩa rộng, kinh doanh lưu trú du lịch là hoạt động kinh doanh của các cơ sở lưu trú du lịch trong việc cung 25 cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bô sung nhằm thỏa mãn nhu cầu lưu lại tạm thời của khách du lịch tại một tỉnh, một vùng hay một quốc gia phát triển du lịch. Các cơ sở kinh doanh lưu trú thường cung cấp các dịch vụ như: ©_ Dịch vụ cơ bản bao gồm: phòng ngủ, nhà hàng. © Các dịch vụ bổ sung: phòng tiệc, quầy bar, phòng hội nghị, bida, sân øolf, xông hơi, massage, chăm sóc sức khoẻ, quây lưu niệm, shop quần áo, trung tâm cung cấp thông tin cho khách hàng, nơi đôi tiền, địch vụ Internet.
Kinh doanh ăn uống: ® Kinh doanh ăn uống trong du lịch là các hoạt động chế biến thức ăn; bán, phục vụ các thức ăn, đỗ uông và cung câp các dịch vụ khác đề thoả mãn các nhụ câu về ăn uông tại các nhà hàng, khách sạn nhắm mục đích có lãi. ® Kinh doanh dịch vụ ăn uống là một bộ phận rất quan trọng và mang lại nguồn thu lớn trong hoạt động kinh doanh khách sạn vỉ nó đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của khách du lịch. Là một bộ phận kết hợp lâu đời nhất với các cơ sở lưu trú, bộ phận kinh doanh ăn uống của một khách sạn hiện đại đầy đủ các dịch vụ và là một hoạt động phức tạp đồng thời liên quan tới các chức năng chuyên môn cao. Thông thường thì bộ phận kinh doanh ăn uống bao gồm một số nhà hàng, bộ phận tiệc — hội nghị hội thảo, quay bar 1.
kính doanh lữ hành “Kinh doanh lữ hành (Tour operators business) là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phân, quảng cáo và bán các chương trình du lich nay trực tiếp hay gián tiếp qua trung gian hay văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Các doanh nghiệp lữ hành (DNLH) đương nhiên được phép tô chức mạng lưới đại lý lữ hành. Theo Luật du lịch Việt Nam 2017: Kinh doanh dịch vụ lữ hành là việc xây dựng, bán và tô chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. Kinh doanh vận chuyền du lịch.
Kinh doanh vận chuyền du lịch là cung cấp dich vy van tai giao thông can thiết dé giup khach di chuyén tir ving nay sang ving khac, quéc gia nay sang quốc gia khác trong quá trình đi du lịch. Kinh doanh vận chuyền là điều kiện tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành du lịch, là nguồn thu ngoại tệ du lịch và thu hồi tiền tệ quan trọng. Vận tải, tỉnh Nam Định du lịch và khách sạn du lịch được gọi chung là 3 trụ cột lớn của ngành du lịch Du khách đi du lịch phải chí 1 khoản phí giao thông nhất định và chiếm tỉ trọng lớn trong tông chỉ phí du lịch, nguồn chỉ phí nảy tạo ra doanh thu cho kinh doanh vận chuyển quốc tế, trong những năm gân đây ước tính nguồn thu này chiếm khoản 18% tổng doanh thu của du lịch 1. Kinh doanh dịch vụ du lịch bé sung e Khai niém: Dich vu du lich bé sung la nhimng dich vu phu cung cap cho khách hàng nhằm thỏa mãn các nhu cầu đặc trưng và nhu cầu bô sung của khách du lịch.
Tuy chúng không có tính bắt buộc như dịch vụ cơ bản nhưng phải có trong hành trỉnh du lịch của du khách. © Cung cấp các dịch vụ bổ sung là một phần quan trọng trong hoạt động du lịch. Sở thích và nhu cầu của khách du lịch tăng nhanh hơn so với sự cung cấp các dịch vụ ở những cơ sở đón tiếp khách. Điều đó thúc đây các cơ sở đón tiếp hàng năm phải mở rộng các thê loại dịch vụ mà trước hết là các loại dịch vụ bổ Sung.
Các dich vu bé sung gém: ® Dịch vụ làm sống động hơn cho kỳ nghỉ và thời gian nghỉ (như vui choi, giải trí): Tổ chức tham gia cầm lễ hội, trò chơi đân gian, vũ hội.; học những điệu múa và bài hát dân tộc; học cách nấu món ăn đặc sản; karaoke, internet, bida, bowling .