Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về sự hài lòng của bệnh nhân đến khám, chữa bệnh tại bệnh viện; Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân đến khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Kiến An, Hải Phòng; 6 CHUONG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SU HAI LONG CUA BỆNH NHÂN DEN KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN KIÊN AN HAI PHÒNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thé giới Theo Laurence Salomon, sự hài lòng của bệnh nhân ngày càng được nhận biết như một khía cạnh quan trọng của chất lượng chăm sóc sức khỏe.
Sự hài lòng hay không hài lòng của bệnh nhân phải trở lên một phần quan trọng và hiệu quả của sự theo dõi chất lượng chăm sóc y tế và các chương trình cải thiện chăm sóc sức khỏe. Nhân viên y tế cần phải nhận biết sự đánh giá của bệnh nhân trong thời gian nằm viện là sự phản ánh chân thật quan điểm của họ.Tenkinson, những câu hỏi chỉ tiết về quan điểm BN là rất hữu ích cho sự theo dõi hoạt động của các khoa, phòng khác nhau trong bệnh viện và chỉ ra khả năng cải thiện việc cung cấp dịch vụ y tế trong tương lai. Nghiên cứu của Ivy F.Tso, sau khi phân tích các yếu tố chính và tính giá trị, tác giả đưa ra các yếu tố được dùng để đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân ngoại trú, bao gồm môi trường vật chất, trang thiết bị và sự thuận tiện, sắp xếp hẹn gặp, thời gian chờ đợi, dịch vụ ở phòng khám bệnh và cấp thuốc, nhân viên hỗ trợ, bác sĩ khám bệnh, tính chuyên nghiệp của bác sĩ, sự giải thích của bác sĩ, thời gian tư vấn. Các nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân nội trú nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ y tế tại một số bệnh viện.
Nghiên cứu của Phan Văn Tường về sự hài lòng của bệnh nhân trong bệnh viện khu vực công và ban công tại bệnh viện Phụ Sản — Hai Phong cho thay: Ly do chọn khu vực công và bán công là do thái độ phục vụ tốt 30% trong khi đó tý lệ này ở khu vực công thấp hơn (23%). 51,2% đối tượng khu vực công cho răng giá cao hơn nơi khác, còn khu vực bán công có 15,2% và 7% ở khu 7 vực công và 34,8% ở khu vực bán công nhận xét rằng giá dịch vụ thấp. Thái độ của nhân viên y tế được đánh giá tốt ở khu vực bán công 94,2%, khu vực công 89,2% và đánh giá thái độ nhân viên y tế kèm: khu vực bán công không có trường hợp nao, và khu vực công có tỷ lệ là 0,7%. Đánh giá trình độ chuyên môn của cán bộ y tế từ phía người sử dụng, khu vực công tốt chiếm 96,6%, khu vực bán công được đánh giá cao hơn 98,1%.
Tính sẵn sang trả tiền cao hơn dé được hưởng dịch vụ tốt hơn cho thay cả hai khu vực đều có tỷ lệ cao, khu vực công là 96,6% và bán công là 98,1% Tác giả Lê Nữ Thanh Uyên nghiên cứu trên 220 bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Kết quả cho thấy: 90% bệnh nhân hài lòng chung về toàn bệnh viện, 94,5% hài lòng về khám bệnh, theo dõi và điều trị., 91,8% khâu chăm sóc của điều dưỡng, 74,5% khâu thông tin hướng dẫn, 70% khâu thủ tục hành chính, 60,9% khâu phòng lưu bệnh. Không có khác biệt về sự hài lòng giữa bệnh nhân ở độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, nơi cư trú, số lần đến khám bệnh, thời gian nằm viện và BHYT Trong nghiên cứu của Phạm Nhật Yên về sự hài lòng của bệnh nhân đến khám chữa bệnh theo yêu cầu tại bệnh viện Bạch Mai chỉ ra rằng mức độ hài lòng của bệnh nhân về thời gian tiếp cận dịch vụ còn thấp có 30,1% Tuy nhiên tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú về dịch vụ y tế, đặc biệt tại các khu vực đang thực hiện các mô hình xã hội hóa về y tế. Khai niệm dich vu Theo Luật giá năm 2013: Dich vu là hang hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật.
* Một số khái niệm khác: - Trong kinh tế học dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và § những sản phẩm thiên hắn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nam trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dich vụ (nguồn trích dẫn wikipedia.org) - Theo Tir dién Tiéng Việt: Dịch vu là công việc phục vu trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công (Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr. - Từ điển Wikipedia: Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. - Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận (Luật Thương mại 2005).
Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rộng và có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ, nhưng bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là những gì mà các nhà cung cấp dịch vụ đáp ứng mức độ nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng với dịch vụ đó. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Vì thế, chất lượng dịch vụ chủ yếu do khách hàng xác định, mức độ hài lòng của khách hàng càng cao thì chất lượng dịch vụ càng tốt Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tỉnh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, tiếp cận và tiếp xúc khách hàng. Muốn tạo dịch vụ tốt, phải có sự giao thoa giữa chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.
Tổng quan về dịch vụ y tế và sự hài lòng của người bệnh. Khái niệm về dịch vụ y tế (DVYT) - Theo tô chức y tế thế giới WHO: DVYT bao gồm tất cả các dịch vụ về chan đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khỏe. Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng. - DVYT là một dịch vụ khá đặc biệt về bản chất.
DVYT bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như khám bệnh, chữa bệnh phục vụ người bệnh và gia đình người bệnh. - Chất lượng DVYT đối với cơ sở khám chữa bệnh (KCB) bao gồm 2 thành phan: + Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chân đoán và điều trị bệnh. + Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như: cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp của nhân viên y tế, cách thức tô chức quy trình KCB cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh. Chất lượng KCB- đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe (CSSK) va tầm quan trọng trong CSSK (nhóm 83 tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện — Bộ y tế năm 2015): 1.
Khái niệm về chất lượng chăm sóc y tễ Theo ý kiến của Hội nghị ban tròn quốc gia về chất lượng bệnh viện, viện y khoa Masachusett, Hoa Kỳ : “Chất lượng chăm sóc y tế là mức độ mà nhờ đó các DVYT cho các cá nhân và công chúng làm tăng khả năng có thé đạt được các kết quả sức khỏe mong đợi và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại”. Đánh giá chất lượng CSSK và tâm quan trọng trong CSSK - Chất lượng KCB hiện nay được các cơ sở y tế quan tâm, xác định đó là vấn đề then chốt, là điểm cốt yếu trong việc so sánh giữa các cơ sở y tế, tạo dựng lợi thế trong cạnh tranh. Từ đó, nâng cao việc hiểu biết, đo lường và nâng cao chất lượng CSSK. Những người bệnh khi phải chịu những chi phí càng cao 10 cho các DVYT thì càng đòi hỏi nhu cầu cao về chất lượng dịch vụ mà cơ sở y tế đó cung cấp.
Tuy nhiên để đánh giá chất lượng trong CSSK là rất khó bởi chất lượng không chỉ phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc mà còn phụ thuộc vào sức khỏe của ban thân người bệnh, sự quan tâm săn sóc của người thân, sự chan đoán của bác sĩ và điều kiện chăm sóc,. Theo Donabedian (2008) [34], có 3 nhóm tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng trong CSSK, đó là: - Nhóm tiêu chuẩn cấu trúc: tiêu chuẩn tổ chức, mô hình quản lý, trang thiết bị, cơ sở vật chất. - Nhóm tiêu chuẩn quy trình : tập trung chủ yếu vào các quy trình thực hành của điều dưỡng. - Nhóm tiêu chuẩn kết quả: tập trung vào tình trạng sức khỏe người bệnh, nhưng phúc lợi mà người bệnh được hưởng từ dịch vụ chăm sóc, sự hài lòng của người bệnh và ý kiến của người bệnh rất có giá trị để đánh giá chất lượng.
Bộ y tế đã đưa ra một số nội dung giúp chúng ta xác định được chất lượng tổng thé, bao gồm : - Chủ động tìm hiểu quan điểm của người bệnh và xây dựng don vị xung quanh nhu cầu của người bệnh. - Khuyến khích nhân viên đáp ứng nhu cầu và gợi ý của người bệnh một cách tích cực. - Cần có sự cam kết chất lượng từ các cấp quản lý (từ nhà quản lý đến nhà chuyên môn trong đơn vi ). - Tạo nên văn hóa khuyến khích tham gia rộng rãi và chuyên giao trách nhiệm đến nhân viên.
- Dao tạo tập huấn cho đội ngũ nhân viên một cách hệ thống nhằm trang bị những kiến thức, khả năng tham gia vào các thay đổi, giao tiếp hiệu quả, liên tục cải thiện chất lượng .