chương 1 đề tài cũng trình cấu trúc của bài viết. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG 2.1 Khái niệm dịch vụ 2.1 Khái niệm dịch vụ Ngày nay, khi thế giới trở nên phẳng hơn, nền kinh tế toàn cầu ngày càng đa phương hóa, hội nhập và dần trở nên đan xen lẫn nhau. Đi cùng với sự phát triển của công nghệ, giao thông… các giới hạn về khoảng cách địa lý, văn hóa hay ngôn ngữ dần bị xóa mờ thì hoạt động giao thương hàng ngày càng mở rộng. Hoạt động dịch vụ cũng dần trở nên phổ biến, vô hình chung tạo ra nhiều góc độ tiếp cận khác nhau trong việc định nghĩa khái niệm dịch vụ.
Theo như cách hiểu truyền thống, dịch vụ được khái quát một cách hết sức căn bản đó chính là những gì không đến từ việc nuôi trồng hay sản xuất. Hay theo một cách hiểu khác, dịch vụ đề cập đến việc giải quyết sự liên hệ giữa bên cung ứng và khách hàng mà ở đó không xảy ra quá trình chuyển giao quyền chiếm hữu, nắm bắt.Mác: “dịch vụ chính là kết quả từ việc sản xuất hàng hóa, là kết quả đến từ những đòi hỏi yêu cầu xuất phát từ chính hoạt động giao thương, yêu cầu từ việc lưu thông hàng hóa một cách trôi chảy và liên tục để thỏa mãn các nhu cầu của loài người”. Trong Kinh tế học, khái niệm dịch vụ được hiểu là hàng hóa phi vật chất. Theo Nguyễn Thị Mơ (2005) thì dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình với tính chất đặc thù dễ dàng nhận diện là không thể cầm nắm được.
Trước đó, tính chất vô hình được nêu ra trong phát biểu của nhà nghiên cứu Philip Kotler (2002) với nội dung như sau:“dịch vụ là một sản phẩm vô hình đến từ hai chủ thể là nhà cung cấp và khách hàng mà không phát sinh tính sở hữu và có thể đi liền hoặc không đi liền với một sản phẩm vật chất cụ thể”. Tại Việt Nam, một trong những khái niệm đầu tiên về dịch vụ cũng đã được nêu ra trong TCVN ISO 8402:1999. Theo đó: “Dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp”. Lúc này, rõ ràng khái niệm dịch vụ không chỉ là việc trao đổi hàng hóa phi vật chất mà còn được mở rộng và bao hàm cả những sự hỗ trợ mà khách hàng mong đợi, vượt ra ngoài khuôn khổ của dịch vụ cơ bản, đi cùng với sự phù hợp dựa trên mức giá, hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp.
8 Trong khuôn khổ đề án này, khái niệm dịch vụ của Nguyễn Thị Mơ (2005) sẽ được sử dụng như là trọng tâm của nghiên cứu như sau: “dịch vụ là một sản phẩm vô hình đến từ hai chủ thể là nhà cung cấp và khách hàng mà không phát sinh tính sở hữu và có thể đi liền hoặc không đi liền với một sản phẩm vật chất cụ thể”.2 Đặc trưng của dịch vụ Trái ngược hoàn toàn so với hàng hóa vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được gồm toàn bộ nghiệp vụ xuyên suốt tiếp xúc giữa khách hàng và nhà cung cấp khi tạo ra giá trị cho KH thỏa mãn nhu cầu mong đợi. Dịch vụ có bốn đặc điểm cơ bản bao gồm tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất và tính không thể cất trữ. - Tính vô hình: Dịch vụ có đặc trưng là không nhìn, không thấy, không thể nghe hay không thể ngửi được. Để giảm rủi ro do tính vô định của dịch vụ mang lại, khách hàng có xu hướng tìm hiểu thông tin về sản phẩm dịch vụ như: nơi chốn, nhân viên, thiết bị - vật chất, thông tin nghe đọc, biểu trưng hay giá dịch vụ đề xuất.
Cũng chính tính vô hình mà các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn trong việc xác định dịch vụ cũng như phương thức đánh giá chất lượng dịch vụ. - Tính không thể tách rời: Tính chất này biểu thị thông qua việc các giai đoạn tiến hành dịch vụ rất khó có thể phân biệt một cách rạch ròi từng bước tiến hành, quá trình khởi tạo và quá trình sử dụng dịch vụ. Một đặc trưng cố hữu của dịch vụ đó là khi khách hàng sử dụng dịch vụ cũng chính là lúc dịch vụ được tạo thành. Quả thực, khi so sánh với hàng hóa vật chất thì tính không tách rời vừa nêu phân định sự khác nhau giữa hai loại.
Hàng hóa vật chất khi được sản xuất ra sẽ được lưu kho, phân phối trực tiếp hoặc gián tiếp qua nhiều chủ thể trung gian khác rồi mới đến tay khách hàng. Lúc này tính không thể tách rời càng thể hiện một cách rõ nét khi khách hàng luôn là một phần hoặc toàn bộ của quá trình tạo ra dịch vụ, ngược lại hàng hóa vật chất thì khách hàng chỉ là chủ thể sử dụng sau cùng. - Tính không đồng nhất: Quá trình thực thi dịch vụ là không giống nhau và phụ thuộc vào người cung ứng, thời gian, ngành dịch vụ, chủ thể thụ hưởng hay cả nơi chốn thực thi dịch vụ. Đặc trưng này biểu thị rõ nhất khi khách hàng sử dụng những loại hinh dịch vụ có mức độ thâm dụng lao động cao.
Loại hình nào càng 9 sử dụng nhiều nhân công thì tính đồng nhất về chất lượng, phương thức phục vụ càng khác biệt. - Tính không thể cất trữ: Dịch vụ có mặt đặc trưng nữa đó là không thể lưu trữ như hàng hóa vật chất. Mặc dù người cung ứng dịch vụ có thể tự do tiến hành thứ tự thực hiện dịch vụ theo yêu cầu tuy nhiên khi đã thực hiện dịch vụ thì cũng là lúc sản phẩm dịch vụ kế thúc. Nhà cung cấp dịch vụ sẽ không thể nào lưu kho, “để dành”, tích trữ, phục hồi hay tái sử dụng.
Do vậy, dịch vụ có những đặc điểm riêng với 7 đặc thù như sau: (1) Khách hàng là thành phần của quá trình dịch vụ (2) Tạo ra và sử dụng dịch vụ diễn ra cùng lúc. (3) Không thể tích trữ dịch vụ (4) Quá trình tạo ra và sử dụng dịch vụ đến từ người cung cấp và khách hàng sẽ phải có một mức độ gần gũi nhau về mặt địa lý. (5) Thâm dụng lao động. (6) Tính vô hình: Khách hàng không thể nhìn, chạm vào và dùng thử.
(7) Khó đo lường, đánh giá chất lượng dịch vụ đã tạo ra Vì vậy, khi định nghĩa về chất lượng dịch vụ, 2 nhà học giả Parasuraman và Zeithaml (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của KH với tiện ích mà dịch vụ đưa đến và nhận thức về thành quả theo mô hình SERVQUAL. Định nghĩa mà Parasuraman và Zeithaml (1985) được đánh giá là đầy đủ, khái quát và phản ánh rõ nét nhất đặc tính của chất lượng dịch vụ. Có nhiều góc nhìn về việc hiểu thế nào là chất lượng, việc hiểu khái niệm chất lượng chịu rất nhiều hoàn cảnh quá trình tạo ra dịch vụ đến từ nhận thức của nhà cung cấp - khách hàng, nhu cầu từ phía khách hàng, mong đợi về quá trình thực hiện dịch vụ từ cả 2 phía nhà cung ứng và khách hàng. Tuy nhiên, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa theo ISO 9000:2005 thì chất lượng đến từ tổng hợp các tính chất đặc trưng của chủ thể xem xét mà ở đó đáp ứng được một nhu cầu hiện hữu.
Việc sử dụng khái niệm vừa nêu cho phép hài hòa giữa việc thỏa mãn nhu cầu bên ngoài và tiềm lực bên trong của tổ chức trong bối cảnh cụ thể. Do đó, trong khuôn khổ nghiên cứu này, chất lượng được xây dựng theo như tiêu chuẩn ISO 9000:2005. Bên cạnh đó, chất 10 lượng dịch vụ hiện nay cũng có nhiều cách tiếp cận để hiểu và nắm bắt. Tuy nhiên, do tính phổ quát và rộng rãi trong ứng dụng, nghiên cứu này sử dụng quan điểm được đề ra bởi Parasuraman và cộng sự (1985) làm khái niệm tiếp cận chính thức.
Theo quan điểm này: - Chất lượng biểu thị chính xác qua mức độ thỏa mãn - Sự thỏa mãn là chênh lệch giữa cảm nhận thực tế và kỳ vọng - Chất lượng cảm nhận là chênh lệch giữa cảm nhận và kỳ vọng 2.2 Sự hài lòng đối với chất lượng dịch vụ tín dụng ngân hàng Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là chủ đề được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn luận liên tục trong các thập kỷ qua. Nhìn chung đều có kết luận mặc dù cả 2 đều là hai khái niệm riêng biệt nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Đã có nhiều học giả tiến hành đo lường mối quan hệ của hai khái niệm này, họ cho rằng chất lượng dịch vụ có tương tác lên mức độ hài lòng như trong các nghiên cứu của Rust và Oliver (1993) hay Cronin và Taylor (1993). Trong đó, các nghiên cứu trước đây đều có chung quan điểm rằng chất lượng dịch vụ là cơ sở để đánh giá sự hài lòng của khách hàng.
Theo Zeithaml and Bitner (2000) thì chất lượng dịch vụ lúc này chỉ chú trọng đến các khía cạnh cụ thể của dịch vụ. Một số nghiên cứu như Cronin và Taylor (1992), Spereng (1996) hay Ruyter và cộng sự (1997) một cách riêng rẻ đã chỉ ra có một mối quan hệ mật thiết giữa 2 yếu tố vừa nêu. Tuy nhiên, dường như đã có một sự thiếu sót khi không nhiều nghiên cứu chú trọng đến việc xem xét và đánh giá mức độ tương tác giữa chất lượng và sự hài lòng cũng như sự thỏa mãn của khách hàng. Thực vậy, sự thiếu sót này cũng đã được Lassar và cộng sự (2000) chỉ ra khi xét đến ngữ cảnh trong từng ngành cụ thể theo từng yếu tố cụ thể.
Thực vậy, theo Zeithaml và Bitner (2000), mối quan hệ nêu trên còn bao hàm cả chất lượng sản phẩm và giá cả. Tương tự Curry and Sinclair (2002) cũng đã chỉ ra chất lượng dịch vụ còn chịu tác động bởi đặc thù, yếu tố của mỗi cá nhân hay yếu tố chất lượng mà khách hàng nhận được. Như vậy, nếu chất lượng dịch vụ đáp ứng được mong đợi sẽ mang lại sự hài lòng của khách hàng và ngược lại. Khi xem xét trong ngữ cảnh ngân hàng, có thể thấy tài chính – ngân hàng cũng chính là một loại dịch vụ mà chủ thể cung cấp (phía ngân hàng) cung cấp đến cho khách 11 hàng của mình.
Không đơn giản chỉ xem xét các yếu tố cá nhân theo như lý thuyết hành vi hay những tiêu chí đơn thuần.