Chương I: Tống quan nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình. Chương 3: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Hàm ý quản trị và kết luận TOM TAT CHUONG 1 Chương | tac giả đã giới thiệu lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cầu của đề tài nghiên cứu. Chương 2 tiếp theo sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu vẻ “Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ tín dụng tại SeABank PGD An Phú” CHUONG 2: CO SO LY THUYET VA MO HiNH 2. Khái niệm khách hàng Theo Gronroos (2004) nhân mạnh răng khách hàng có khả năng tác động đến thành công và lợi nhuận của Ngân Hàng thông qua việc mua hàng, sử dụng dịch vụ và tạo ra phản hài. Điều này cho thấy tầm quan trọng của khách hàng trong việc định hình sự phát triển và thành công của Ngân Hàng.
Cùng với đó, nghiên cứu của Kofler và Armstrong (2010) đã đưa ra định nghĩa khách hảng trong ngành Ngân Hàng là những cá nhân hoặc tô chức có nhu cầu và mong đợi nhận được giá trị từ sản phẩm và dịch vụ tài chính mà họ mua. Điều này đặt nên tang cho việc hiểu răng khách hang trong ngành Ngân Hàng không chỉ đơn thuần là người tiêu dùng cuối cùng, mà còn là nguồn doanh thu và lợi nhuận quan trọng cho Ngân Hàng. Mặt khác, Churchill và Peter (2000) cho rằng khách hàng trong ngành Ngân Hàng đóng vai trò là người tiêu dùng cuối cùng hoặc tô chức mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ tài chính. Họ tạo nhu cầu và mong đợi được đáp ứng thông qua việc mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ.
Điều này nhắn mạnh rằng khách hàng trong ngành Ngân Hàng không chỉ đơn thuần là người mua hàng, mà còn là nguồn cung cap nhu cau và kỳ vọng mà Ngân Hàng cần đáp ứng. Như vậy có thế hiểu, xét ở góc độ Ngân Hàng thì khách hàng của Ngân Hàng được xem là những cá nhân, doanh nghiệp, tô chức hoặc bát kỳ thực thê nào sử dụng dich vu va san phâm do Ngân Hàng cung cáp. Họ có thẻ rất đa dạng, từ những người có nhu cầu gửi tiết kiệm, vay vốn, đến các doanh nghiệp cần dịch vụ quản lý tài chính, đầu tư hoặc các dịch vụ Ngân Hàng khác như chuyên tiền, thanh toán, quản lý rủi ro tài chính và tư vấn tài chính. Khái niệm dịch vụ Khái niệm dịch vụ khá rộng và bao gồm nhiều loại hoạt động và ngành khác nhau.
Theo Fitzsimmons & Fitzsimmons (1999) thi: “dich vu la hoat động mang lại kết quả mong muốn cho người nhận dịch vụ, người này có thê là khách hàng hoặc không”. Theo Zeithaml & Bitner (2000), “dịch vụ là hoạt động mang lại kết quả mong muốn cho người nhận dịch vụ, người này có thẻ là khách hàng hoặc không”. Lovelock & Wirtz (2011) cho rằng dịch vụ là một trải nghiệm vô hình, có thẻ bị phai mờ theo thời gian, được thực hiện cho một khách hàng và khách hàng có thẻ đóng vai trò là người đồng sản xuất. Dịch vụ là một giao dịch trong đó không có hàng hóa hữu hình nào được người bản trao đến cho người mua (Kotler & Keller, 2016).
Dịch vụ là việc áp dụng các năng lực chuyên môn (kiến thức và kỹ năng) thông qua các hành động, quy trình và phục vụ vì lợi ích của một thực thẻ khác hoặc chính thực thẻ đó. Nói chung, có thê hiểu đơn giản dịch vụ là một hành động hoặc sự phục vụ mà một bên (nhà cung cấp dịch vụ) cung cấp cho một bên khác (người nhận dịch vụ), thường để đôi lầy thanh toán. Dịch vụ là một khái niệm rộng lớn, đặc trưng bởi ba yếu tó chính: không hữu hình, không thẻ tách rời và biến đôi. Không hữu hình nghĩa là dịch vụ không thế cảm nhận được bằng các giác quan trước khi tiêu dùng; chúng không thẻ nhìn thấy hoặc chạm vào như một sản phẩm vật lý.
Không thê tách rời ám chỉ rằng dịch vụ thường được sản xuất và tiêu thụ đồng thời, ví dụ như trải nghiệm ở một nhà hàng. Cuối cùng, biến đôi đề cập đến sự thay đổi về chất lượng dịch vụ dựa trên nhiều yếu tố như ai cung cáp dịch vụ, thời gian và nơi cung cấp. Những đặc tính này làm cho dịch vụ khác biệt rõ rệt so với hàng hóa vật lý và yêu cầu một cách tiếp cận đặc biệt trong quản lý và cung cấp. Như vậy có thê hiểu dịch vụ được cung cáp tại các Ngân Hàng có thẻ được hiệu là một chuỗi các hoạt động bao gồm tư vấn tài chính, cung cấp thông tin về sản phâm và dịch vụ, các chương trình khuyến mãi, cùng với việc cung cáp các tiện ích như giao dịch trực tuyến, ATM, và dịch vụ khách hàng.
Mục đích của những hoạt động này là mang đến cho khách hàng sự hài lòng và thoả mãn nhu cầu tài chính, qua đó giúp họ quản lý tài sản của mình một cách hiệu quả và an toàn khi sử dụng dịch vụ tại Ngân Hàng. Tính chất của dịch vụ Tính vô hình (Intangible): Dịch vụ không có hình dạng vật lý và khó đo lường. Doanh nghiệp có thê tùy chỉnh dịch vụ theo nhu câu khách hàng, nhưng đánh giá chất lượng gặp khó khăn. Tính không thể tách rời (Inseparable): Sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời.
Khách hàng là người đồng hành trong quá trình tạo dịch vụ, đòi hỏi sự chú ý đề duy trì chất lượng. Tính không đồng nhất (Heterogeneous): Dịch vụ mang tính linh hoạt, đáp ứng nhu cầu riêng của từng khách hàng, nhưng khó kiêm soát chất lượng đồng đều do nhiều yếu tố ngẫu nhiên. Tính không thể cất trữ (Unstored): Dịch vụ không thẻ lưu trữ, tạo áp lực tối ưu hóa thời gian và nguồn lực. Quản lý lịch trình và nguồn cung phải được thực hiện cân thận đề tránh lãng phí.
Tính không chuyền quyền sở hữu (Non-transferable ownership): Người tiêu dùng không thẻ chuyền giao quyên sở hữu dịch vụ, tạo sự độc đáo và mối quan hệ chặt chẽ với nhà cung cấp, dù đôi khi gây rắc rồi pháp lý khi cần chuyên giao. Khái niệm chất lượng dịch vụ Một số quan điểm vẻ khái niệm trên đã được đưa ra bởi các học giả. Theo đó, quan điểm của Parasuraman, Zeithaml, & Berry (1985) là: “Chất lượng dịch vụ là mức độ dịch vụ được cung cáp phù hợp với mong đợi của khách hàng như thế nào”. Theo Gronroos (1984) thì: “Chất lượng dịch vụ đề cập tới việc đưa ra được dịch vụ xuất sắc hoặc vượt trội so với mong đợi của khách hàng”.
Cronin & Taylor (1992) cho răng: “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá tông thẻ trải nghiệm của khách hàng đối với nhà cung cáp dịch vụ”. Đồng tỉnh với quan điểm đó, Zeithaml & cộng sự (1990) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là mức độ khác biệt giữa nhận thức của khách hàng về dịch vụ và mong đợi của họ”. Hay là: “Chất lượng dịch vụ là ấn tượng tong thé cua khách hàng về sự kém hơn hoặc tốt hơn tương đối của nhà cung cấp và các dịch vụ mà họ cung cấp” (Rust & Oliver, 1994). 10 Căn cứ trên các định nghĩa được đưa ra bởi những tác giả trên, có thể kết luận rằng chất lượng dịch vụ đẻ cập đến mức độ mà các dịch vụ do một doanh nghiệp hoặc tổ chức cung cấp thỏa mãn được mong đợi của khách hàng hoặc làm tốt hơn.
Nó là thước đo mức độ xuất sắc hoặc cảm giác thỏa mãn của khách hàng đối với các dịch vụ mà họ trải nghiệm. Các định nghĩa đều nhân mạnh sự quan trọng của nhận thức cùng với mong đợi của khách hàng trong việc xác định chất lượng dịch vụ. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ là thứ được đánh giá căn cứ vào tất cả các trải nghiệm của khách hàng đối với người cung cấp, mức độ mà cảm nhận thực tế của họ sai khác so với mong đợi. Khái niệm sự hài lòng của khách hàng Trong lĩnh vực kinh doanh với mục đích tạo ra lợi nhuận, thì mọi doanh nghiệp hay cửa hàng đều rất chú trọng đến các sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa có liên quan đến ngành nghè kinh doanh của mình.
Trong đó, dé tạo ra dịch vụ tốt, gia tăng các giá trị lợi nhuận, đối tượng khách hàng luôn được doanh nghiệp hay cửa hàng rất quan tâm, chính xác hơn, khách hàng “là những cá nhân hay tổ chức mà các doanh nghiệp đang nỗ lực Makerting hướng tới. Họ là người đưa ra quyết định mua sắm và là đối tượng thừa hưởng những đặc tính chất lượng của sản phẩm dịch vụ”. Với quan điểm của Oliver (1999), ông cho rằng “SHL của khách hàng là những phản hài về tình cảm hoặc toàn bộ sự cảm nhận của khách hàng đến nhà cung cấp dịch vụ, sau khi khách hàng so sánh thây được sự khác biệt về những gì họ nhận được Với mong đợi trước đó”. “Theo Zeithaml & Bitner (2000), định nghĩa sự hải lòng của khách hàng là những đánh giá về một sản phâm hay một dịch vụ mà nó đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của h ọ.” Theo Philip Kotler (2000), định nghĩa sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thát vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản pham (hay kết quả) trong mi liên hệ với những mong đợi của họ.
Theo Yuksel & Yuksel (2001), có hai khía cạnh về sự hài lòng, đó là hài lòng của khách hàng với sản phẩm cuối (tức là sau khi tiêu dùng san phẩm) và hài lòng 11 của khách hàng với quá trình cung cấp dịch vụ (tức là gắn với toàn quá trình trải nghiệm sản phẩm của khách hàng). Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau vẻ sự hài lòng của KH, có thê hiểu rằng sự hài lòng của khách hàng là cảm nhận của khách hàng về mức độ đáp ứng những mong đợi của khách hàng khi trải nghiệm mua dùng sản phẩm/dịch vụ của một công ty hoặc một thương hiệu nảo đó. Các vẫn đề liên quan đến sự hài lòng của khách hàng 2. Tầm quan trọng của sự hài lòng SHL của khách hàng phản ánh cảm nhận của họ đối với chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp.
Nó giúp các doanh nghiệp hiệu được kỳ vọng của người tiêu dùng và cách đề có thê đáp ứng được nhu cầu của họ.