CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TAC CHAM SOC KHACH HANG TRONG HOAT DONG KINH DOANH CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái quát về khách hàng trong hoat dong kinh doanh cia NHTM 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo cách hiểu thông thường thì Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Thông qua Ngân hàng thương mại, các chính sách tiền tệ của Quốc gia sẽ được thực.
hiện một cách nhanh chóng. Trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp nhưng chúng là những doanh nghiệp. đặc biệt vì tài sản trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào các khách hàng. Theo tỉnh thần Luật các Tô chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997)[1] và Luật sửa đôi, bô sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004)[3] Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này đề cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp. (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phú vẻ tổ chức và hoạt động của NHTM)[4] Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12[2] “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: Nhận tiển gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tô chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận đề tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng. nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh ch, ủy nhiệm chỉ, nhờ thu, ủy. nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng Như vậy, Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn đề có thể cho vay phát triển kinh tế. Mặc dù mỗi quốc gia có một tiếp cận khác nhau để đi đến một khái niệm về Ngân hàng thương mại theo mục đích của họ, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả xác định khái niệm về Ngân hàng thương mại theo luật có liên quan mới nhất hiện nay là Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt. Nét đặc biệt của ngân hàng thương mại được thể hiện ở các nội dung sau: Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng là lĩnh vực rất “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh xã hội. Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là công cụ được nhà nước sử dụng đề quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển hoặc suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó chất liệu này được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. 8 Là một doanh nghiệp, nhưng nguồn vấn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tông nguồn vốn kinh doanh.
Trong tông tài sản của ngân hàng, đà sản hữu hình chiếm tỷ trọng rất thấp, mà chủ yếu là tài sản vô hình. Nó tồn tại dưới hình thức các tài sản tài chính, chẳng hạn như các loại kỳ phiếu, cô phiếu, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các loại giấy tờ có giá trị khác. Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chỉ phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Một NHTM không thê mở rộng hoạt động kinh.
doanh khi ngân hàng trung ương đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát và ngược lại. Do đó, việc ngân hàng mở rộng hay thu hẹp hoạt động, kinh doanh của mình đều phải chịu sự chỉ phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng.NHTM là một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tô chức trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế, nhu cầu vốn tiêu dùng của toàn xã hội. Như vay, có thê nói NHTM là nhịp cầu nói liền những chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng chưa có nhu cầu sử dụng, các doanh nghiệp, tô chức kinh tế vừa tiêu thụ được sản phẩm nhưng chưa có nhu cầu nhập vật tư, hàng hóa) với các chủ thể thiếu vốn (những cá nhân phát sinh nhu cầu nhưng thu nhập lại chưa có, hay các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đang cần nhập vật tư, nguyên liệu nhưng chưa. tiêu thụ được sản phim).
Chức năng và dịch vụ của NHTM 1. Chức năng Chức năng trung gian tài chính: ngân hàng thực hiện việc chuyển vốn từ bên cung tiền (hộ gia đình có tiền nhàn rỗi, ngân hàng nhà nước, các nguồn cung khác) tới bên cầu tiền (doanh nghiệp, các tổ chức và các đối tượng có nhu cầu tiền khác), Chức năng trung gian tài chính bao gồm chức năng nhận tiền gửi và chức năng cấp tín dụng. 9 Chức năng cung cấp dịch vụ thanh toán: được hiểu như là việc ngân hàng làm trung gian thanh toán đối với những thanh toán không dùng tiền mặt và cung ứng tất cả các dịch vụ liên quan đến thanh toán cho các khách hàng (trong phạm vi quốc gia hoặc quốc tế). Chức năng bảo lãnh: Ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ đó với người thứ ba.
Chức năng đại lJ - uỷ thác: Ngân hàng thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản cho họ nhằm bảo toàn hoặc làm cho tài sản đó sinh lợi hoặc thực hiên những công việc liên quan đến tài sản. Chức năng tư vấn: xu hướng đa năng hoá của các ngân hàng thương mại thể hiện ở 2 điểm: (1) Mở rộng lĩnh vực hoạt động của các chức năng truyền thống, chẳng hạn trong chức năng đại lý mở rộng sang lĩnh vực đại lý phát hành chứng khoán và đại 1ý bảo hiểm. (2) Thực hiện những chức năng mới so với những chức năng truyền thống đã nói ở trên như cung ứng dịch vụ bảo hiểm, môi giới chứng khoản, bão lãnh phát hành chứng khoán 1. Dich vu Các dịch vụ truyền thống của ngân hàng thương mại bao gồm: chuyên đôi ngoại tệ; chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại; nhận tiền gửi; bảo quản vật có giá; cung cắp các tài khoản thanh toán và dịch vụ thanh toán cho khách hàng; cung cấp dịch vụ uỷ thác bao gồm dịch vụ uỷ thác thông thường cho cá nhân hoặc hộ gia đình và uỷ thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Các dịch vụ uỷ thác cá nhân như quản lý và đầu tư tiền tiết kiệm cho những mục đích nhất định hoặc uỷ thác quản lý tài sản theo di chúc (công bố tài sản, bảo quản tài sản, đầu tư có hiệu. quả và đảm bảo cho người thừa kế nhận được tài sản hợp pháp). Các dịch vụ uỷ thác thương mại như quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tiền lương; đại lý phát hành chứng khoán (bán, thanh toán lợi tức, thu hồi và thanh toán tiền gốc.) 10 Những dịch vụ phi truyền thống bao gồm: cho vay tiêu dùng; tư vấn tài chính; quản lý tiền mặt; cho thuê tài chính; cho vay tài trợ dự án; cung ứng dịch vụ. bảo hiểm; quản lý tiền hưu trí; môi giới chứng khoán; cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư.
Và một số các dịch vụ khác tuỳ thuộc bối cảnh từng nước. Khái niệm, phân loại và vai trò của Khách hàng 1. Khái niệm Khách hàng. Theo nghia hẹp và thông thường thì Khách hàng được hiểu như là tắt cả những người bên ngoài doanh nghiệp đến mua và sử dụng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp.
Tuy nhiên điều này đã vô tình loại những đối tượng khác cũng được xem như là khách hàng như những nhà đầu tư, các cơ quan quản lý và cả nhân viên đang làm việc trong tổ chức. Trong hoạt động chăm sóc khách hàng, một cách tổng quát để hiểu về khách hàng như sau: “Khách hàng là những người được doanh nghiệp. Hiểu như vậy thì khách hàng gồm hai nhóm: Khách hàng bên trong và khách hàng bên ngoài doanh nghiệp) Khách hàng bên trong doanh nghiệp là toàn thể những người đang làm việc cho doanh nghiệp và được hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp đó. Khách hàng bên ngoài doanh nghiệp là tắt cả những người tham gia vào quyết định mua hàng của doanh nghiệp: người khởi xướng ý định mua hàng; người ảnh hưởng đến quyết định mua; người quyết định mua; người thực hiện quyết định mua; người sử dụng.