CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Dịch vụ tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tín dụng Tín dụng, đây là một thuật ngữ xuất phát từ chữ Latin là Creditium (tiếng Anh gọi là Credit), có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Hiện nay, có nhiều quan niệm về tín dụng, tiêu biểu là: Tín dụng là sự ủy thác cho phép một bên cung cấp nguồn lực cho một bên khác mà bên thứ hai đó không hoàn trả cho bên thứ nhất ngay lập tức mà thay vào đó thu xếp hoàn trả hoặc trả lại các tài nguyên đó vào một ngày sau đó (Ủy ban Basel, 2001). Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và bên đi vay trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Lê Văn Tề, 2009).
Như vậy, có thể hiểu tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Cấp tín dụng là nghiệp vụ phân phối nguồn vốn còn lại của ngân hàng sau khi thiết lập dự trữ cho các chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế, nhằm điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế, đồng thời mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng. Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là mảng nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro, NHTM cần chú trọng trong công tác quản trị rủi ro đối với nghiệp vụ này (Nguyễn Minh Kiều, 2012).
Nghiệp vụ cấp tín dụng tại các NHTM bao gồm: cho vay, chiết khấu, thấu chi, cho thuê tài chính, bảo lãnh. dù tính chất củac các hình thức tín dụng có những điểm đặc thù khác nhau, nhưng đều có điểm chung về cơ bản là ngân hàng sẽ chuyển giao cho khách hàng một số tiền nhất định và sau một khoảng thời gian đã thỏa thuận thì ngân hàng sẽ thu hồi vốn và lãi (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Hiện nay tại Việt Nam, hoạt động tín dụng chủ yếu trong ngân hàng là cho vay. Cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các sản phẩm tín dụng tại Việt Nam.
Vì vậy, trong nghiên cứu này tín dụng được đề cập với khía cạnh chủ yếu là cho vay.2 Khái niệm dịch vụ tín dụng Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất (Kotler, 2003). Từ khái niệm dịch vụ và khái niệm tín dụng đã được làm rõ ở trên, khái niệm “dịch vụ tín dụng” có thể được hiểu là sản phẩm vô hình được bên cho vay cung cấp cho bên đi vay dưới hình thức bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Dịch vụ tín dụng là một trong những dịch vụ ngân hàng cốt lõi trong ngành ngân hàng và được coi là hoạt động quan trọng nhất để sử dụng các nguồn vốn huy động từ công chúng (Kargi, 2011).
Mặc dù nó là nguồn gốc của phần lớn rủi ro kinh doanh ngân hàng. Dịch vụ tín dụng là một trong những nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng. Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên mà một bên (chủ nợ hoặc người cho vay) cung cấp tiền hoặc dịch vụ hàng hóa tương đương tiền tệ, v. để đổi lấy lời hứa cho khoản thanh toán trong tương lai của bên khách hàng vay hoặc khoản vay (Ủy ban Basel, 1999).
Dịch vụ tín dụng là một trong hoạt động sinh lời chủ yếu của các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế thị trường nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Bởi vậy, đề cập đến vấn đề phát triển dịch vụ tín dụng không phải là điều mới mẻ nhưng nó luôn là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu của nền kinh tế (Lê Văn Tề, 2009).2 Chất lượng dịch vụ tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ tín dụng Theo Chesterek và cộng sự (2015), Dịch vụ ngân hàng là một quá trình bao gồm các hoạt động Back-end và Front-end trong đó các nhà cung cấp dịch vụ khách hàng tương tác với nhau. Mục đích của sự tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách mà khách hàng mong đợi và tạo ra giá trị cho khách hàng (Cronin và Taylor, 1992). Theo Prasad và Bhavani (2015), chất lượng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Vì vậy, chất lượng dịch vụ của khách hàng được xác định bởi khách hàng và là một phạm trù chủ quan vì nó phụ thuộc vào nhu cầu và mong đợi của khách hàng (Gronroos, 1984). Cùng một mức độ chất lượng dịch vụ nhưng những khách hàng khác nhau sẽ có cảm 10 nhận khác nhau, thậm chí cùng một khách hàng đôi khi cũng có những cảm nhận khác nhau ở những thời điểm, giai đoạn khác nhau của Igaz và Ali (2013). Theo Islam và Ali (2011), chất lượng dịch vụ ngân hàng là khái niệm đề cập đến mức độ đặc tính của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của khách hàng. Mỗi loại tính năng dịch vụ ngân hàng cần phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng và cung cấp cho ngân hàng và khách hàng một cách kịp thời và an toàn (Fragoso và Espinoza, 2017).
Yêu cầu của khách hàng phụ thuộc vào mục đích, thu nhập, mức độ nhận thức và kiến thức của khách hàng (Kotler và Keller, 2006; Kotler, 2000). Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng được coi là hàng hóa vô hình, đòi hỏi mức độ hiểu biết nhất định của cả nhà cung cấp và khách hàng. Hơn nữa, để cung cấp dịch vụ ngân hàng cần phải có ứng dụng công nghệ. Chất lượng dịch vụ ngân hàng phải luôn được duy trì và nâng cao.2 Chất lượng dịch vụ tín dụng đối với ngân hàng thương mại Chất lượng dịch vụ tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Đối với khách hàng, do nhu cầu sử dụng dịch vụ tín dụng của khách hàng là để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hay như cầu mua sắm tiêu dùng cá nhân nên chất lượng dịch vụ tín dụng được đánh giá theo tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục vay đơn giản, thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng. Đối với nền kinh tế, chất lượng dịch vụ tín dụng là thực hiện cho vay đầu tư phát triển nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước một cách có hiệu quả. Tức là dịch vụ tín dụng sẽ giải quyết các nhu cầu vốn của nền kinh tế để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ,. Đồng thời, thông qua đó sẽ góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế vĩ mô của Nhà nước như: hợp lý hóa cơ cấu nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện cuộc sống người dân, củng cố quan hệ kinh tế đối ngoại quốc gia, đặc biệt là góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cần hiểu đúng về bản chất chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá đúng những tồn tại về chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý thích hợp để ngân hàng có thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường biến động như hiện nay.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tín dụng ngân hàng Sihoming và cộng sự (2012) đã giải thích các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng liên quan đến dịch vụ tín dụng trong ngân hàng như sau: - Thời gian cho quá trình phê duyệt khoản vay có thể mất vài ngày hoặc trong vòng một tuần để tiến hành nó sẽ là một vấn đề cho sự không hài lòng của khách hàng (Lymperopoulou, 2006). - Có một số quy trình tài liệu phải được xử lý để được phê duyệt khoản vay tài chính. Trong đó, tài liệu cho vay để xử lý bao gồm mẫu đơn, chi tiết cá nhân, xử lý khoản vay và phê duyệt khoản vay, trong khi các chi tiết tài liệu bao gồm báo cáo thu nhập, tài liệu liên quan đến tài sản và tài chính và chi tiết cá nhân như Chứng minh nhân dân/ Căn cước công dân. Việc xử lý khoản vay bao gồm thăm trang web và tiền đề kinh doanh được quản lý bởi một nhân viên cho vay.
- Việc xử lý khoản vay mất một thời gian dài cho quá trình phê duyệt khoản vay vì nhân viên cho vay cần truy cập trang web để xác minh và xác nhận rằng tài sản được tài trợ là tình trạng xứng đáng và để xác minh và xác nhận vị trí kinh doanh của người nộp đơn trong công ty hoặc doanh nghiệp. Mục đích chính để xác minh xử lý khoản vay là để ngăn chặn bất kỳ tài liệu gian lận nào của khách hàng, nhưng thời gian cho quá trình phê duyệt khoản vay mất nhiều thời gian để tiến hành. E (2012) khẳng định rằng việc chậm phê duyệt khoản vay là vấn đề chính về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ tín dụng và tiếp theo là phân tích tài liệu và giải ngân khoản vay tương ứng. Ngoài ra, mặc dù khách hàng chờ đợi một thời gian dài cho quá trình tài liệu, khách hàng không có gì đảm bảo về việc phê duyệt khoản vay được yêu cầu.
Thông thường, ngân hàng chỉ cung cấp biên độ cho vay tài chính dưới 80% hoặc không cho khoản vay đăng ký. Điều này có nghĩa là, biên độ tài chính không đáp ứng yêu cầu của khách hàng hoặc đề xuất cho vay sẽ không được ngân hàng chấp thuận.