CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HỘ NGHÈO 1. Tín dụng Ngân hàng và tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng “Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng.” [5] Tín dụng NHCSXH khác biệt với các Ngân hàng khác là thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, hoạt động của Ngân hàng CSXH không vì mục tiêu lợi nhuận.
Các đối tượng vay vốn tại NHCSXH chủ yếu là do Chính phủ chỉ định tại mỗi chương trình cho vay của NHCSXH theo những tiêu chí cụ thể. “Có các chương trình như: Cho vay Hộ nghèo, Cho vay Hộ cận nghèo, Cho vay học sinh Hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, cho vay làm nhà phòng, chống lụt bão; cho vay Nước sách và vệ sinh môi trường, Cho vay Xuất khẩu lao động; Cho vay Dân tộc thiểu số…” [3] Mỗi chương trình cho vay có quy định rõ đối tượng được vay vốn. Nội dung tín dụng Ngân hàng Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi. Tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng đều có hai chức năng cơ bản là [5]: - Huy động vốn và cho vay vốn tiền tệ trên nguyên tắc hoàn trả có lãi.
- Kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua các quan hệ tín dụng đối với các tổ chức và cá nhân. Khái niệm và tiêu chí đánh giá đói nghèo tại Việt Nam 1. Khái niệm đói nghèo “Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [1]. - Tiêu chí về thu nhập Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
- Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Như vậy Hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Khu vực nông thôn + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Đặc điểm hộ nghèo Ở Việt Nam, theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30 tháng 01 năm 2011, chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 cụ thể: 7 - Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
- Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015, chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 cụ thể: - Hộ nghèo ở nông thôn: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ nghèo ở thành thị: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống.
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.
- Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Như vậy, quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Các chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình bao gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt 8 tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội trong giai đoạn 2016 - 2020. Nguyên nhân * Nhóm nguyên nhân khách quan: - Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo. Hộ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn: Nghèo có đặc thù rõ rệt về mặt địa lý.
Ở Việt Nam, với 80% dân số và 90% số người nghèo sống ở nông thôn “Những đặc trưng của người nghèo vẫn giống như trước đây - đói nghèo vẫn là hiện tượng phổ biến ở nông thôn và đối với các dân tộc thiểu số, thì mức độ đói nghèo cao và nghiêm trọng hơn so với đa số người Kinh. Các đặc trưng khác của đói nghèo, là rủi ro cao về thu nhập, do thường xuyên bị thiên tai và tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng ở nông thôn”. [9] - Điều kiện kinh tế - xã hội Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy, không có đủ điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai, để thoát khỏi cảnh đói nghèo.
Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái… 9 - Chính sách nhà nước Do cơ chế chính sách Nhà nước thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng, kết cấu hạ tầng cho từng vùng nghèo, chính sách khuyến khích sản xuất, chính sách tín dụng, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đất đai…đã ảnh hưởng đến kết quả xóa đói giảm nghèo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến mức giảm nghèo. Việt Nam đã có những thành tích giảm đói nghèo rất đa dạng và trên diện rộng. Tuy nhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo: * Nhóm nguyên nhân chủ quan - Hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ như: Tri thức, học vấn, kỹ năng lao động, khả năng tiếp cận thị trường, sức khỏe.
Đại đa số hộ nghèo kiến thức và kỹ năng về sản xuất yếu, phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức. Sản xuất tự cung, tự cấp là chính, chưa có khái niệm về sản xuất hàng hoá. - Thiếu việc làm, không năng động tìm kiếm việc làm, lười biếng lao động. Do sinh con nhiều, đông con vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của đói nghèo.
Trong gia đình các hộ nghèo mặc dù nhân khẩu nhiều, nhưng số người có sức lao động lại ít. Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém, nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khoẻ…). Tiêu chí hộ nghèo Những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng thu nhập và nâng cao đời sống của số đông dân chúng, vẫn còn tồn tại một bộ phận dân chúng sống nghèo khổ, đặc biệt là những hộ nông dân nghèo sống tập trung ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa…Chính vì 10 vậy, trong xã hội sự phân hoá giàu nghèo đang diễn ra ngày một sâu sắc, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng rộng.