CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Theo Quốc hội (2010) tại Luật các tổ chức tín dụng số 47/210/QH12 “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Cũng theo Quốc hội (2010) thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo Ngân hàng Nhà Nước (2016) tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN, khách hàng vay vốn tại ngân hàng là “pháp nhân, cá nhân”, trong đó “cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài”. Cho vay cá nhân bao gồm cho vay phục vụ nhu cầu đời sống và cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh. Từ các quy định trên, có thể định nghĩa cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại là một ngân hàng thương mại giao hoặc cam kết giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích phục vụ nhu cầu đời sống hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân có những đặc điểm sau: -Các khoản vay có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. 8 Hầu hết các khoản vay khách hàng cá nhân có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn do cho vay khách hàng cá nhân sử dựng làm mục đích tiêu dùng, đầu tư sản xuất,… nên quy mô của khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản ngân hàng. Nhưng số lượng các khoản vay lại rất lớn do đối tượng là các cá nhân, các hộ gia đình với số lượng rất nhiều và nhu cầu của họ là đa dạng, khác nhau. Vì số lượng khoản vay nhiều nên lợi nhuận từ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân sẽ không nhỏ nếu Ngân hàng biết cách huy động và làm tốt các công tác quản lý có liên quan khác.
-Thời hạn của các khoản vay ngắn Với khách hàng là các doanh nghiệp thì các khoản vay thường được sử dụng với mục đích tài trợ cho tài sản cố định hay xây dựng nhà xưởng… Còn với khách hàng cá nhân, chủ yếu các khoản vay là những khoản vay trung và dài hạn hạn, chỉ có một phần là ngắn hạn. - Khoản cho vay có độ rủi ro cao Các khoản vay của khách hàng cá nhân thường được đảm bảo bằng thu nhập của chính cá nhân đó. Tuy nhiên, nếu khách hàng gặp phải bất trắc như ốm đau, bệnh tật,… thì ngay lập tức thu nhập đó hoặc giảm sút hoặc thậm chí có thể mất đi hoàn toàn. Ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với những rủi ro đó, mà công tác thẩm định, quản lí khách hàng lại không thể kiểm soát được hết tất cả.
Chính vì điều này, rất nhiều ngân hàng thương mại trong một thời gian dài trước đây đã rất "ngại" cho khách hàng cá nhân vay vốn. Nhưng hiện nay, nhận thấy hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân mang lại một nguồn thu không nhỏ nên các ngân hàng thương mại đã tập trung hướng tới mục tiêu này. Và công tác quản lí rủi ro ngày càng được các ngân hàng quan tâm chú trọng hơn. - Chi phí thẩm định lớn Để tránh gặp phải những rủi ro trong hoạt động cho vay, ngân hàng thường tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc vào hoạt động thẩm định và giám sát khoản vay một cách nghiêm ngặt.
Ngoài ra, việc thu nhập thông tin cá nhân là rất khó 9 khăn (thường không đầy đủ và thiếu chính xác) nên các ngân hàng thương mại sẽ chấp nhận chi phí cao để đánh đổi rủi ro cao, đảm bảo an toàn cho các món vay. - Lãi suất thường cao hơn so với lãi suất của các khoản vay khác Lãi suất áp dụng cho khách hàng cá nhân thường cao hơn các lãi suất khác của các khoản vay khác của ngân hàng thương mại. Do quy mô của các khoản vay thường không lớn nhưng chi phí bỏ ra để quản lí lại rất lớn nên các ngân hàng thương mại phải đề ra mức lãi suất cao để bù đắp chi phí (gồm chi phí về thời gian, nhân lực, thẩm định, quản lí…). Phân loại cho vay khách hàng cá nhân - Phân loại theo thời hạn khoản vay + Cho vay ngắn hạn: Là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của khách hàng nhằm mục đích sinh hoạt của gia đình hoặc bổ sung vốn kinh doanh của cá nhân.
+ Cho vay trung hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn 1-5 năm, thường để cung cấp, mua tài sản cố định, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng có giá trị cao của cá nhân. + Cho vay dài hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn 5 năm trở lên, nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân hoặc hộ gia đình như sản xuất lớn, mua nhà ở có giá trị cao, mua ô tô phục vụ mục đích tiêu dùng. - Phân loại theo mục đích sử dụng vốn + Cho vay tiêu dùng: Là hình thức dành cho cá nhân có nhu cầu mua sắm tài sản phục vụ cho sinh hoạt gia đình. + Cho vay hoạt động sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng dành cho những cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích hỗ trợ thúc đẩy sản xuất kinh doanh như mua sắm thiết bị máy móc, cung cấp vốn lưu động.
- Phân loại theo tài sản đảm bảo + Cho vay có tài sản đảm bảo: Là hình thức đi vay cầm cố, thế chấp tài sản đảm bảo hoặc có sự bảo lãnh bên thứ ba. 10 + Cho vay không có tài sản đảm bảo: hay còn gọi là tín chấp, không có tài sản đảm bảo hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Quản lý cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm quản lý cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Theo Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2002) thì quản lý “là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý là đối tượng và khách thì quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường”.
Theo Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà và Đỗ Thị Hải Hà (2012) quản lý là “quá trình lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát các nguồn lực và các hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường biến động”. Từ các khái niệm trên có thể định nghĩa quản lý cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại là quá trình ngân hàng thương mại lập kế hoạch cho vay KHCN, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm soát cho vay KHCN nhằm thực hiện các mục tiêu cho vay KHCN trong từng thời kỳ. Mục tiêu và các tiêu chí đánh giá quản lý cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Mục tiêu quản lý cho vay KHCN của ngân hàng thương mại là nhằm tăng trưởng cho vay KHCN về số lượng và chất lượng, từng bước mở rộng thị trường một cách hợp pháp và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay KHCN. - Các tiêu chí đánh giá quản lý cho vay KHCN của NHTM bao gồm: + Số lượng KHCN vay vốn trên tổng số khách hàng vay vốn và tốc độ tăng trưởng KHCN vay vốn + Dư nợ cho vay KHCN trên tổng dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng dư nợ + Cơ cấu cho vay trên tổng dư nợ cho vay + Tỷ lệ nợ quá hạn trên tỷ lệ nợ xấu cho vay KHCN 11 + Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cho vay KHCN trên tổng dư nợ cho vay KHCN + Tỷ lệ dự phòng trích lập trên tổng dư nợ + Thu lãi từ cho vay KHCN trên tổng lãi thu được từ cho vay của ngân hàng thương mại - Các tiêu chí định tính + Sự hài lòng của khách hàng: là mức độ mà khách hàng cảm thấy hài lòng và đáp ứng với các sản phẩm và dịch vụ của tổ chức tài chính, đặc biệt là trong lĩnh vực cho vay.
Có thể sử dụng phản hồi từ khách hàng, đánh giá trực tiếp, ý kiến phản ánh để đo lường mức độ hài lòng của khách hàng. + Việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động cho vay: tuân thủ các quy định và luật lệ của pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay, bảo vệ quyền lợi của khách hàng và đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong các giao dịch tài chính. Nội dung quản lý cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Lập kế hoạch cho vay KHCN Lập kế hoạch cho vay KHCN là quá trình phòng giao dịch ngân hàng thương mại xác định các mục tiêu và các phương thức để hành động đạt được mục tiêu.
Phòng giao dịch ngân hàng thương mại thường phải lập nhiều loại kế hoạch cho vay như chiến lược cho vay, chính sách cho vay KHCN, kế hoạch cho vay KHCN hàng năm. Ở cấp độ phòng giao dịch thường chỉ lập kế hoạch cho vay hàng năm. Quy trình lập kế hoạch cho vay tại phòng giao dịch của NHTM thường được thực hiện theo các bước sau: - Bước 1: Phân tích chiến lược cho vay và chính sách cho vay KHCN của hội sở cũng như các chỉ tiêu cho vay KHCN mà chi nhánh giao cho phòng giao dịch. 12 - Bước 2: Phân tích môi trường hoạt động của phòng giao dịch + Môi trường vĩ mô: Bao gồm các yếu tố như chính trị, pháp luật, kinh tế, và xã hội.
Điều này có thể bao gồm việc theo dõi các thay đổi về quy định và luật pháp tài chính, biến động trong tình hình kinh tế, tác động của yếu tố xã hội như thay đổi trong nhu cầu tín dụng và quyền lợi của người tiêu dùng.