CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ XÂU TRONG CHO VAY KHACH HANG CA NHAN TAI CÁC NGÂN HÀNG THUONG MAI 1. Téng quan về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam số 17/2017/QH14 định nghĩa “Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Huy động vốn, sử dụng vốn và hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (Nghiệp vụ trung gian) là các nghiệp vụ chính của NHTM.
Trong đó, hoạt động tín dụng đóng vai trò cốt lõi trong quá trình hoạt động của NHTM. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 'Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, HĐTD được hiểu là việc các TCTD. sử dụng nguồn vốn để cấp tín dụng cho khách hàng với thỏa thuận có hoàn trả thông qua các hình thức cho vay, chiết khu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Trong phạm vi bài nghiên cứu, thuật ngữ “tín dụng” được hiểu là “cho vay”.
Các hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại Phụ thuộc từng mục đích và đối tượng khác nhau, NHTM phân chia tín dụng thành các loại sau: Thứ nhất, theo tài sản đảm bảo (TSĐB) gồm: = Cho vay thế chấp TSĐB - Cho vay tín chấp (không có TSĐB), Thứ hai, theo thời hạn sử dụng vốn gồm: ~_ Cho vay ngắn hạn = Cho vay trung hạn = Cho vay dai han Thứ ba, theo cách thức hoàn trả gồm: ~_ Tín dụng hoàn trả nhiều lần ~_ Tín dụng hoàn trả một lần ~ _ Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu 1. Rui ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 năm 2021 đã định nghĩa “Rủi ro tín dung trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy. ra tôn thất đối với nợ của tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng. hoặc thỏa thuận (sau đây gọi chung là thỏa thuận) với tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài”.
Theo đó, RRTD sẽ xuất hiện nếu người đi vay không thực thanh toán khoản vay theo thời hạn cam kết bao gồm cả gốc và lãi. Các khoản nợ quá hạn, nợ xấu là kết quả của RRTD. RRTD kéo dài sẽ tác động xấu trực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận và uy tín của NHTM. Tuy nhiên, RRTD tổn tại khách quan, song hành trong quá trình HĐTD của NHTM.
Tổng quan về nợ xấu trong Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về nợ xấu của Ngân hàng thương mại “Bad debt”, “Non-performing loan” hay “Sour loan” là các thuật ngữ tiéng Anh dùng để chỉ nợ xấu. Tùy thuộc vào quan điểm và góc nhìn của mỗi cá nhâi chức, nợ xấu sẽ được định nghĩa khác nhau. Có thê kẻ đến như: Năm 2004, Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) định nghĩa nợ xấu là một khoản vay quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên; hoặc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên và đã được cơ cấu lại, được vốn hóa hoặc được thảo thuận cho phép trì hoãn; hoặc.
đến hạn thanh toán nhưng có một số tin hiệu nhận định có nguy cơ không thể hoàn trả. Khái niệm của IMF chủ yếu nhấn mạnh đến thời hạn thanh toán khoản vay. Ủy ban Basel không định nghĩa nợ xấu dựa trên các mốc thời gian quá hạn của một khoản vay. Ủy ban Basel định nghĩa nợ xấu là một món nợ đã hết hạn, ngân hàng cho rằng người vay không thể trả nợ cả gốc lẫn lãi và ngân hàng chưa có bất ky hành động nào đề thu hồi khoản nợ.
Bởi vì báo cáo của các quốc gia về các thời hạn nợ xấu không đồng nhất, có thê 30-89 ngày, 90-179 ngày,. Theo đó, Ủy ban Basel không đưa ra các mốc thời gian cụ thé để xác định quá hạn khoản vay. Tại Việt Nam, Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 năm 2021 nhận định “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghỉ ngờ và nợ có khả năng mắt vốn”. NPL được ghi nhận trong các báo cáo tài chính (BCTC) của NHTM.
Khái niệm về nợ xấu khá đa dạng và phức tạp, tuy nhiên đều được xác định dựa vào thời gian quá hạn và năng lực tín dụng của người đi vay. Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng định nghĩa “NPL là khoản tiền người vay nợ không thể trả đầy đủ số tiền như cam kết cho chủ nợ sau 90 ngày trở lên tính từ ngày phải thanh toán theo. Phân loại nợ xấu Theo thông tư 11/2021/TT-NHNN, dù theo phương pháp định tính hay định lượng, NPL đều được chia thành các nhóm sau: ~_ Nợ dưới tiêu chuẩn: nợ có khả năng tôn thất ~_ Nợ nghỉ ngờ: nợ có khả năng tôn thất cao ~_ Nợ có khả năng mắt vốn, không còn khả năng thu hồi. Tác động của nợ xấu đến Ngân hàng thương mại Các tác động của NPL có thể kể tới như sau Thứ nhắt, lợi nhuận của NHTM bị tác động nghiêm trọng.
Khi NPL phát sinh, NHTM sẽ không thể thu hồi các khoản nợ như dự kiến. Theo đó, doanh thu sẽ suy giảm. Trong lúc đó, các khoản chỉ phí hoạt động của NHTM để xử lý nợ xấu đều gia tăng, như một kế quả, lợi nhuận của NHTM bị giảm tùy thuộc vào mức độ thiệt hại của khoản nợ. 10 Thứ hai, tác động đến khả năng thanh khoản của NHTM.
Các khoản NPL đã ngăn cản quá trình lưu thông tiền tệ và cản trở dòng vốn quay về với NHTM. Nếu không xử lý kịp thời, NPL con có thể gây mất vốn, dẫn tới nguy cơ phá sản của NHTM. Thứ ba, sự tín nhiệm của NHTM bị tác động nghiêm trọng. Khách hàng và các nhà đầu tư khó có thể kỳ vọng nhiều để đặt niềm tin vào một NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao.
Do vậy, trong dài hạn thị phần của NHTM sẽ bị sụt giảm đáng kể. Nhìn chung, nợ xấu mang lại những tác động nghiêm trọng đến sự tồn tại của một NHTM, đòi hỏi các NHTM cần có sự nghiêm túc, chú trọng, tập trung phân tích, đưa ra các giải pháp đề phòng ngừa và xử lý một cách hiệu quả và tối ưu nhất 1. Quy định của pháp luật về nợ xấu tại Việt Nam Để công tác phòng ngừa và xử lý NPL đạt hiệu quả, nhà nước Việt Nam đã ban hành hệ thống quy định pháp luật (QĐPL) như sau - _ Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010 - _ Thông tư số Số: 11/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 năm 2021 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài -_ Thông tư số 91/2020/TT-BTC ngày 13 tháng 11 năm 2020 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính ~_ Luật các tô chức tín dụng, ố: 17/2017/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2017 sửa đổi và bỗ sung một số điều luật của tổ chức tín dụng ~_ Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD (Nghị quyết số 42) - _ Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài 1I 1. Tổng quan về nợ xấu trong cho vay khách hàng cá nhân của các Ngân hàng Thương mại 1.
Khái niệm và phân loại nợ xắu trong cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Tín dụng KHCN là một HĐTN của NHTM thể hiện mối quan giữa ngân hàng và đối tượng khách hàng cá nhân thông qua các sản phẩm liên quan đến hoạt động cho vay. Mối quan hệ được hình thành trên cơ sở là hợp đồng tín dụng, cụ thê NHTM: sẽ chuyển giao một lượng vốn nhất định trong thời hạn quy định, ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ hoàn trả theo thời gian đã thỏa thuận. NPL trong cho vay KHCN là các rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của NHTM. KHCN vay vốn của NHTM nhưng không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo đúng thỏa thuận sẽ hình thành các khoản nợ xấu.
NPL trong cho. vay KHCN cũng được điều chỉnh theo hệ thống pháp luật của Việt Nam về nợ xấu. Đặc điểm của dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân là các sản phâm có đặc tính riêng và khác biệt so với cho vay khách hàng doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, quy mô các khoản vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay lại lớn. Mục đích của các khoản vay có thê kê đến như: ~ Bồ sung vốn kinh doanh.
Thường các hoạt động sản xuất kinh doanh này đều không có quy mô lớn, bên cạnh đó hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tương đối nên chỉ bô sung phần thiếu tương đối nhỏ. ~ Phục vụ nhu cầu tiêu dùng hằng ngày. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chỉ tiêu cho cuộc sống như mua nhà, xe, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. Đây đều là những khoản vay nhỏ lẻ tuy nhiên do đối tượng khách hàng là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao, thu nhập trung bình và kể cả người có thu nhập thấp nên nhu cầu tín dụng khá đa dạng và phong phú.
I3 'Thứ hai, tín dụng KHCN gây tốn kém nhiều chỉ phí. Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng nên sẽ tốn kém nhiều chỉ phí cho. các công tác như là mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng KHCN ở từng địa bàn, khu vực, phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thâm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ cũng như các chỉ phí liên quan như: chỉ phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác phí hỗ trợ CBTD. Vì vậy mà lãi suất của tín dụng KHCN thường cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp.