Chương 1: Tổng quan về đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận. 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính được hình thành từ rất lâu và đã gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Đồng hành với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng thương mại ngày càng hoàn thiện và càng phát triển. Từ đó, ngân hàng thương mại trở thành một trong những tổ chức tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế hiện nay. Theo Luật các tổ chức tín dung (2010) có định nghĩa hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng một hoặc một số nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán. Theo đó, tổ chức ngân hàng thương mại được định nghĩa là tổ chức thực hiện các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Từ những định nghĩa trên có thể kết luận ngân hàng thương mại có những đặc điểm chung là cung cấp các dịch vụ trong hoạt động ngân hàng, và các hoạt động khác vì mục tiêu lợi nhuận. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế ngày càng quan trọng. Có thể tóm tắt vai trò của ngân hàng thương mại qua một số đặc điểm sau: - Thứ nhất, ngân hàng thương mại là công cụ quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Theo đó, ngân hàng thương mại góp phần thúc đẩy lưu thông tiền tệ, là nơi kết nối giữa cung tiền tệ và cầu tiện tệ trong nền kinh tế.
Thúc đẩy, lưu thông luân chuyển tiền tệ và góp phần phát triển kinh tế. - Thứ hai, ngân hàng thương mại là nơi tạo ra và nơi thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước. Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia do Ngân hàng nhà nước quyết định và thực hiện theo từng giai đoạn, thời kỳ cụ thể nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế do Chính phủ đề ra. Tùy theo tình hình cụ thể từng giai đoạn mà chính sách tài chính tiền tệ có thể nới lỏng (nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế) hoặc siết chặt (nhằm kiềm chế lạm phát).
Theo đó, các ngân hàng thương mại là nơi tạo ra và thực hiện những chính sách đó. Qua đó, những chính sách được đề ra bởi Ngân hàng Nhà Nước sẽ được thực thi trong nền kinh tế thông qua các ngân hàng thương mại. 7 - Thứ ba, ngân hàng thương mại là nơi tiến hành hội nhập giữa nền kinh tế hàng hóa trong nước và nền kinh tế quốc tế. Với các nghiệp vụ như mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế,… các ngân hàng thương mại trở thành cầu nối giữa nền kinh tế nội địa và nền kinh tế quốc tế.
Qua đó góp phần thúc đẩy trao đổi hàng hóa, mua bán sản phẩm, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia với nhau. Khái niệm tín dụng Ngân hàng và tín dụng cá nhân 2. Khái niệm tín dụng Ngân hàng và tín dụng cá nhân Ngân hàng là biểu hiện bên ngoài của mọi hoạt động kinh tế, tiền tệ của nền kinh tế đất nước. Mọi chính sách của Ngân hàng luôn là biểu hiện bên ngoài của chính sách kinh tế của đất nước.
Do đó, những thông tin liên quan đến chính sách huy động, cho vay của Ngân hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp và cá nhân. Ngân hàng thương mại là pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Trong đó, với đa dạng sản phẩm dịch vụ thì hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Do đó, quy mô, chất lượng, tốc độ tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận và sự phát triển bền vững của Ngân hàng.
Theo cách hiểu phổ quát nhất, tín dụng được hiểu là biểu hiện đi vay có hoàn trả về gốc và lãi trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận. Qua đó, tín dụng Ngân hàng được bao gồm ba tính chất đặc thù: lòng tin, chuyển nhượng giá trị có thời hạn và nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi. Ngày nay, theo xu hướng phát triển của kinh tế xã hội, các hình thức tín dụng của Ngân hàng phát triển đa dạng về số lượng và loại hình tín dụng. Tuy nhiên, thông thường nhất, việc phân loại các loại hình tín dụng có thể dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau: Theo đối tượng vay; Theo mục đích sử dụng tiền vay; Theo thời hạn vay; Theo điều kiện đảm bảo; Theo xuất xứ của tín dụng.
Nguyễn Minh Kiều (2009) cho rằng, nếu dựa vào tiêu chí đối tượng vay, tín dụng có thể phân chia thành tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp. Mở rộng hơn, Bùi Diệu Anh và cộng sự (2009), dựa theo chủ thể thì nhóm tác giả phân chia tín dụng thành tín dụng doanh nghiệp và tín dụng ngoài doanh nghiệp, cụ thể: 8 Tín dụng doanh nghiệp là loại hình tín dụng dành cho chủ thể được hình thành, tồn tại và chịu sự quản lý, điều tiết theo quy định của Luật doanh nghiệp Mặt khác, tín dụng ngoài doanh nghiệp bao gồm các tổ chức kinh tế cá thể, hộ gia đình, cá nhân. Những đối tượng này không chịu sự điều tiết của Luật doanh nghiệp. Đối với sản phẩm tín dụng cho khách hàng cá nhân và hộ gia đình, các sản phẩm này thường được phát triển dựa trên các sản phẩm tín dụng truyền thống.
Tuy nhiên, theo sự phát triển của kinh tế xã hội, từ những sản phẩm tín dụng truyền thống, các sản phẩm tín dụng dành cho cá nhân, hộ gia đình ngày nay khá đa dạng và có nét đặc thù riêng. Tuy nhiên, khái quát lại, các sản phẩm này thường tập trung vào các nhóm chính sau: Cho vay sinh hoạt tiêu dùng: đáp ứng nhu cầu chi tiêu gia đình, mua sắm, chữa bệnh…; Cho vay hỗ trợ tiêu dùng: đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhanh, số tiền vay tương đối nhỏ, thông thường không cần tài sản bảo đảm, quy trình phê duyệt tín dụng nhanh; Cho vay mua sắm bất động sản, nhà ở: đáp ứng nhu cầu an cư của người vay, các sản phẩm tín dụng liên quan đến mua bất động sản, xây dựng sửa chữa nhà…; Cho vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh: sản phẩm nhằm bổ sung vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình. Phương thức vay có thể vay theo từng lần hoặc luân chuyển theo hạn mức tín dụng. Thời gian vay có thể là vay ngắn hạn hoặc trung dài hạn; Cho vay hỗ trợ du học: đây là loại hình cho vay đang phát triển khá nhanh trong thời gian gần đây.
Mục đích vay nhằm chứng minh tài chính hoặc hỗ trợ tài chính cho học sinh, sinh viên dự định đi du học. Kèm theo sản phẩm này là các dịch vụ liên quan đến xác nhận số dư tài khoản, bảo lãnh, mua bán ngoại tệ… Tóm lại, tín dụng khách hàng cá nhân rất đa dạng về sản phẩm và loại hình dịch vụ. Tuy dư nợ vay thông thường không lớn như đối với tín dụng doanh nghiệp, nhưng số lượng khoản vay nhiều và đa dạng về loại hình vay cùng tài sản đảm bảo. Tín dụng khách hàng cá nhân đã và đang chiếm vai trò rất quan trọng trong các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng và đóng góp tỷ lệ lợi nhuận đáng kể cho hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại cổ phần.
Đặc điểm của tín dụng cá nhân a) Tín dụng cá nhân có dư nợ nhỏ, nhưng số lượng các khoản vay lớn Các sản phẩm cho khách hàng cá nhân rất đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, sản phẩm tín dụng cho khách hàng cá nhân có thể tóm gọn lại trong hai mục đích cơ bản: - Một là, là cá nhân, hộ gia đình vay để bổ sung vốn kinh doanh. Tương tự như doanh nghiệp, tuy nhiên do năng lực còn hạn chế, hoạt động kinh doanh chỉ mang tính chất hộ gia đình, quy mô nhỏ. - Hai là, cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng.
Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học… Với hai mục đích cơ bản trên thì số tiền cho vay phải tương ứng với nhu cầu sử dụng vốn nên số tiền vay bị giới hạn bởi quy mô kinh doanh hoặc nhu cầu sử dụng vốn của người vay. Vì vậy, số tiền cho vay đối với tín dụng cá nhân thường có dư nợ không lớn. Ngược lại, khác với đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, đối tượng khách hàng cá nhân rất rộng lớn, vậy nên nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân là rất lớn. Điều này dẫn đến số lượng khách hàng cá nhân, số hồ sơ đề nghị vay vốn là vô cùng lớn.
b) Tín dụng khách hàng cá nhân có chi phí vốn lớn hơn tín dụng cho doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm thứ nhất, do số lượng khoản vay của khách hàng cá nhân là nhiều. Do vậy, ngân hàng thường phải tốn nhiều nhân lực trong việc thẩm định khách hàng, giải ngân và thu hồi nợ. Khác với các doanh nghiệp thường mang tính tập trung theo khu công nghiệp, hoặc theo ngành nghề.
Khách hàng cá nhân mang tính phân tán rộng, nên để duy trì và phát triển tín dụng khách hàng cá nhân phải có tốn kém nhiều hơn cho các chi phí liên quan như: - Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực. - Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ. 10 - Các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác phí hỗ trợ cán bộ tín dụng. Vì vậy, nếu xét theo đơn vị là khoản vay, thì chi phí Ngân hàng cho từng khoản vay đối với khách hàng cá nhân là lớn hơn trong danh mục các khoản tín dụng của ngân hàng.
c) Biên độ lãi suất đầu vào – đầu ra của tín dụng khách hàng cá nhân lớn hơn các danh mục tín dụng khác. Như đã thảo luận ở trên, chi phí vốn trên mỗi khoản vay của khách hàng cá nhân là lớn hơn các danh mục tín dụng khác.