CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về tín dụng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng và tín dụng cá nhân 1.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó, luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng.
(Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn, 2014) Tín dụng ra đời, tồn tại xuất phát từ nhu cầu khách quan và thực tế nhằm giải quyết hiện tượng thừa vốn ở nơi này, nhưng lại thiếu vốn ở nơi khác. Đồng thời, tín dụng được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Đầu tiên, thuật ngữ “Tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Creditium: có nghĩa là sự tin tưởng, nuôi dưỡng lòng tin, tín nhiệm, hẹn trả. Khái niệm tín dụng biểu hiện qua 03 mặt cơ bản như sau: - Sự chuyển giao quyền sử dụng trên cơ sở “niềm tin” và có thời hạn. - Là sự chuyển giao quyền sử dụng giá trị từ người sở hữu này qua người khác sử dụng.
- Đến thời hạn hoàn trả lại giá trị chuyển nhượng, người nhận chuyển nhượng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện giá trị đã nhận ban đầu kèm theo một phần chi phí phát sinh. Tóm lại, tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và lãi. Khi nền kinh tế càng phát triển thì quan hệ tín dụng càng đa dạng, tùy thuộc vào cơ sở xem xét mà có thể phân thành nhiều loại hình tín dụng khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào chủ thể tham gia tín dụng ta có thể phân loại thành: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và tín dụng nhà nước.
Trong đó, tín dụng ngân hàng là hình thức 9 tín dụng chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống NHTM. Có thể hiểu tín dụng ngân hàng qua các khái niệm như sau: Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng (2008) cho rằng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các pháp nhân hoặc thể nhân trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường (KTTT), ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức trung gian, quan hệ tín dụng ngân hàng được thể hiện qua hai khâu là khâu huy động vốn và khâu cho vay Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn (2014) cho rằng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng nói trên Nguyễn Minh Kiều (2014) cho rằng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản phí nhất định.
Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng; - Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời; - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí. Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng là người cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản trong một khoảng thời gian nhất định, với cam kết là khách hàng phải hoàn trả nợ gốc, lãi đúng hạn và phải sử dụng vốn vay đúng mục đích.2 Khái niệm tín dụng cá nhân Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tượng KHCN bao gồm cá nhân Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài, đang tự kinh doanh hoặc làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, vì vậy TDCN là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN sử 10 dụng trong một thời hạn nhất định. Sau đó, phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ SXKD. TDCN đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của KHCN.
TDCN đã phát triển từ lâu trên thế giới và là một khái niệm khá phổ biến ở thị trường Việt Nam kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, đưa nền kinh tế nước ta chuyển sang nền KTTT bắt đầu từ năm 1986. Từ đó, TDCN đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn để phát triển. Điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số đông (khoảng 100 triệu người), trong đó đa số có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích. Hiện nay xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống đang tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn.
Chính vì thế, các sản phẩm TDCN của NHTM được khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các NHTM tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, TDCN được hiểu là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng vốn hoặc tài sản của mình cho đối tượng là KHCN, hộ gia đình để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận. Tùy theo mục đích tài trợ mà tín dụng dành cho KHCN có thể được phân chia thành hai loại hình chủ yếu là: tín dụng tiêu dùng và tín dụng phục vụ SXKD.2 Đặc điểm của tín dụng cá nhân Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn (2014) cho rằng TDCN có các đặc điểm như sau: Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn. So với việc cho vay khách hàng tổ chức, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn.
Tuy nhiên, xét về tổng quy mô cho vay của NHTM lại lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn TDCN nhiều. Thứ hai, các khoản TDCN có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt. KHCN thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả 11 hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh, lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất TDCN thường được ấn định tại một mức nhất định.
Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với những khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh hàng quý, bán niên hoặc mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ nhất định hoặc trên cơ sở mua bán vốn tuỳ theo từng ngân hàng. Thứ ba, TDCN có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của NHTM. Bởi quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể song số lượng các khoản vay lại rất lớn.
Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, NHTM phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ. Thứ tư, TDCN có mức độ rủi ro cao. Rủi ro trong cho vay đối với KHCN cao hơn cho vay doanh nghiệp.
Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau: - Rủi ro về lãi suất: Đối với các khoản cho vay trung dài hạn, một số NHTM và khách hàng thường không thỏa thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất cố định trong suốt thời hạn cho vay. Vì vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất sẽ tăng cao trong trường hợp lãi suất huy động có sự biến động mạnh. - Rủi ro đạo đức: Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay. Tuy nhiên, đối với những KHCN có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt. ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, chiến tranh, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao. cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng.
Thứ năm, lợi nhuận từ TDCN lớn. Lãi suất của các khoản TDCN phần lớn đều cao hơn so với các khoản tín dụng khác của NHTM. Điều này xuất phát từ các khoản TDCN có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. Mức lợi 12 nhuận từ trên mỗi khoản TDCN cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM.3 Phân loại tín dụng cá nhân Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn (2014) TDCN được phân loại như sau: 1.1 Phân loại theo tính chất của TSĐB Tín dụng có TSĐB: Là khoản vay được đảm bảo bằng tài sản hoặc giấy tờ có giá hoặc được bảo lãnh từ bên thứ ba.
TSĐB hoặc bảo lãnh của bên thứ ba thực chất là căn cứ pháp lý để NHTM có thêm được nguồn dự phòng khi nguồn thu chính từ khách hàng bị thiếu hụt, từ đó giảm thiểu rủi ro cần thiết cho NHTM.