CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM 1. Tổng quan về tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng cá nhân Để tìm hiểu tín dụng cá nhân là gì, trước hết ta tìm hiểu qua tín dụng là gì? Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm tín dụng Ngân hàng như: Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay. Trong một quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng là một giao dịch tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể.
Như vậy tín dung là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở tin tưởng số vốn đó sẽ được trả vào một ngày xác đinh trong tương lai. Có thể định nghĩa tín dụng một cách đầy đủ như sau: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lương giá trị ban đầu”(giáo trình tiền tệ ngân hàng-2008). Trên cơ sở định nghĩa tín dụng như trên, tín dụng cá nhân được định nghĩa như sau: Tín dụng cá nhân có thể hiểu là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho đối tượng khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm tín dụng cá nhân Tín dụng cá nhân là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, do đó tín dụng cá nhân cũng mang những đặc điểm cơ bản của tín dụng ngân hàng, đó là: Thứ nhất: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng có tính tạm thời.
Thời gian chuyển nhượng là kết quả của sự thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay. Thực chất của sự chuyển nhương này là chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng chứ không chuyển nhượng quyền sở hữu. Thứ hai: Tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả vào một ngaỳ xác định bao gồm cả gốc và lãi.
Lãi là phần dôi ra thêm so với lượng giá trị ban đầu và đó là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Nói cách khác, nó là gía trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó. 4 Thứ ba: Quan hệ tín dung dựa trên cơ sở có sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay. Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dung.
Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn. Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay. Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện hình thành quan hệ tín dụng. Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp và do sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Ngoài những đặc điểm chung như trên, tín dụng cá nhân còn mang những đặc điểm riêng sau đây: Thứ nhất: Quy mô của từng khoản vay cá nhân không lớn, hồ sơ vay vốn không phức tạp. Thứ hai: Tư cách khách hàng vay là một yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định khả năng hoàn trả nợ vay. Thứ ba: Tín dụng cá nhân có rủi ro cao vì trong quá trình thẩm định cho vay, ngân hàng có ít thông tin mang tính định lượng để làm cơ sở ra quyết định. Những yếu tố quan trọng có tính quyết định đến khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng cá nhân phần nhiều mang tính định tính và khó xác định, ví dụ như: tư cách khách hàng, khả năng tài chính… Thứ tư: Tín dụng cá nhân có chi phí cao vì quy mô của từng khoản vay không lớn, số tiền cho vay nhỏ, trong khi số lượng các khoản vay nhiều khiến cho chi phí hành chính, chi phí quản lý tín dụng lớn.
Phân loại tín dụng cá nhân 1. Phân loại tín dụng cá nhân căn cứ theo mục đích Có 2 loại: Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện, vận chuyển, xây dựng. Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh: là hình thức tín dụng được cung cấp để tài trợ các nhu cầu bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, thanh toán tiền vật tư nguyên liệu, hàng hóa và các chi phí sản xuất kinh 5 doanh cần thiết; hoặc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mua sắm máy móc thiết bị, phuơng tiện vận chuyển…của các hộ kinh doanh cá thể.
Phân loại tín dụng cá nhân căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ a. Tín dụng trực tiếp Tín dụng trực tiếp là các khoản cho vay trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này. Thông thường tín dụng trực tiếp được thực hiện theo các bước sau đây: Bước 1: Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay. Bước 2: Người tiêu dùng trả trước một phần tiền cho công ty bán lẻ.
Bước 3: Ngân hàng thanh toán số tiền còn lại cho công ty bán lẻ. Bước 4: Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng. Bước 5: Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.1: Tín dụng trực tiếp (1) Ngân hàng Người tiêu dùng (5) (3) (2) (4) Công ty bán lẻ Tín dụng trực tiếp có một số ưu điểm như: ngân hàng tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng- là người được đào tạo bài bản, có chuyên môn, kiến thức nghiệp vụ nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với tín dụng gián tiếp. Ngoài ra, các nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của các công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán được nhiều hàng.
Tín dụng gián tiếp Tín dụng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Tín dụng gián tiếp thường được thực hiện theo các bước như sau: Bước 1: Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. Bước 2: Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa.Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.
Bước 3: Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng. Bước 4: Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng. Bước 5: Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ. Bước 6: Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho Ngân hàng Sơ đồ 1.2: Tín dụng gián tiếp Ngân hàng Người tiêu dùng 7 (6) (5) (1) (4) (2) (3) Công ty bán lẻ Tín dụng gián tiếp có một số ưu điểm đó là: cho phép ngân hàng nhanh chóng tăng doanh số cho vay cá nhân và giảm chi phí cho vay, đây cũng là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác, trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt thì tín dụng gián tiếp an toàn hơn tín dụng trực tiếp.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm kể trên thì tín dụng gián tiếp cũng có những nhược điểm như sau: ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu hàng hóa, ngân hàng khó kiểm soát được công ty bán lẻ trong việc bán chịu hàng hóa, kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng gián tiếp có tính phức tạp cao. Chính vì những nhược điểm này mà các NHTM thường không khuyến khích phát triển hình thức này. Phân loại tín dụng cá nhân căn cứ vào phương thức hoàn trả Căn cứ vào phương thức hoàn trả, tín dụng cá nhân được chia thành 3 loại: a. Cho vay trả góp: là hình thức người đi vay trả nợ cho ngân hàng (gồm cả gốc và lãi) thành nhiều lần theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay mà bên vay và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Đối với loại cho vay này, ngân hàng cần chú ý một số vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc sau: Loại tài sản được tài trợ: thiện chí của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai. Số tiền phải trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu người vay thanh toán trước một phần giá trị cho mục đích sử dụng vốn và ngân hàng sẽ cho vay phần còn lại. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Chi phí tài trợ: là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử dụng vốn.
Chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên 8 quan. Chi phí tài trợ phải trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro đồng thời mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng. Điều khoản thanh toán: khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau: Số tiền thanh toán mỗi kỳ phải phù hợp với khả năng tài chính của ngươì vay Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi. Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng.
Thời hạn tài trợ không nên quá dài vì khi đó gía trị tài sản tài trợ giảm nhiều và rủi ro ngân hàng tăng cao Vấn đề trả nợ trước hạn: thông thường người đi vay có quyền thanh toán tiền vay trước hạn mà không bị phạt.