CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại. Khái niệm Ngân hàng thương mại. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa, Ngân hàng thương mại ra đời là kết quả của một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, phù hợp và gắn liền với tiến trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa.
Nó được coi là sản phẩm của nền sản xuất hàng hóa, là một bộ phận không thể tách rời và tồn tại như một tất yếu trong nền kinh tế hiện đại. Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá 10 thông qua vào ngày 12/12/1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH 12 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại: Là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này cũng định nghĩa: tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng bao gồm Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Như vậy Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, triết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan, Ngân hàng Thương mại là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất.
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại. Khái niệm tín dụng Ngân hàng Thương mại. Ngân hàng Thương mại (NHTM) là một chủ thể trong nền kinh tế, gắn với chức năng của nó thì NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay (huy động vốn dưới dạng tiền gửi của khách hàng) vừa đóng vai trò người cho vay (cấp tín dụng). Dưới góc độ người đi vay NHTM huy động và tập trung các nguồn tiền nhỏ lẻ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay đối với nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Ta có thể hiểu tín dụng ngân hàng như sau: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng thương mại. Đây là hình thức cấp tín dụng để tài trợ cho mục đích thương mại của tổ chức kinh tế hay cá nhân nên loại hình tín dụng thường áp dụng cho chủ thể vay này thường là tín dụng ngắn hạn và được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động hoặc nhu cầu thiếu hụt tạm thời về vốn của các chủ thể vay.
Nắm rõ đặc điểm này, các tổ chức tín dụng cho vay phải đảm bảo nguồn lực cũng như có chính sách thích hợp để giải quyết được nhu cầu vay vốn. Để hiểu rõ hơn về tín dụng ngân hàng, ta đi sâu vào các nội dung mang tính đặc trưng sau đây (Bùi Diệu Anh, 2020). Thứ nhất: Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký. Đây là điểm khác biệt với việc cấp tín dụng của các tổ chức cấp tín dụng phi ngân hàng, theo đó tín dụng mà các tổ chức này chuyển giao cho khách hàng luôn dưới dạng tiền mặt.
Thứ hai: Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc 8 thu hồi tín dụng không những phụ thuộc vào chính bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, vượt ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về lãi suất, tỷ giá, giá cả, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai dịch bệnh,… khi khách hàng gặp khó khăn do môi trườnglkinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn tronglviệc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặplrủi ro tín dụng. Thứ ba: Tín dụng ngân hàng trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Các chứng từ được hình thành trong quan hệ tín dụng dựa trên những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo lãnh… Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng ngân hàng.
Chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại Có nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau về chất lượng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng. Điều này tuỳ thuộc vào góc nhìn, cụ thể: (i) Nếu theo quan điểm của người sử dụng thì chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ đều được biểu hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Tín dụng là một dịch vụ của ngân hàng, do vậy đối với khách hàng chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ các dịch vụ của ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu khách hàng, số tiền mà ngân hàng cho vay phải có lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
(ii) Đứng ở góc độ người cung cấp dịch vụ là ngân hàng thương mại thì chất lượng tín dụng phản ánh mức độ rủi ro và khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trên danh mục của NHTM trong một thời kỳ nhất định. Nói cách khác, có thể thông qua các chỉ số đo lường về độ rủi ro của các nhóm nợ, về khả năng sinh lời mà NHTM tạo ra trong tương quan so sánh với các chuẩn mực quy định và so sánh qua các thời kỳ khác nhau để nhìn nhận về chất lượng tín dụng của một NHTM. 9 (iii) Đứng ở góc độ tổng thể nền kinh tế chất lượng tín dụng được xét trong mối liên quan với sự phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể chất lượng tín dụng được đánh giá qua mức phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần tạo ra công ăn việc làm, khai thác các khả năng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, hoà nhập với nền kinh tế quốc tế.
Trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung vào nghiên cứu chất lượng tín dụng ở góc độ của người cung cấp dịch vụ tín dụng, đó là các ngân hàng thương mại. Theo đó, chất lượng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại. Chất lượng tín dụng thể hiện năng lực quản lý hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hạn chế rủi ro đảm bảo an toàn về vốn và khả năng sinh lời của ngân hàng. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại.
Chất lượng tín dụng được phản ánh thông qua nhiều yếu tố, song để dễ dàng và thường xuyên nắm bắt được thực trạng tín dụng của một ngân hàng, các nhà phân tích, nghiên cứu thường sử dụng các chỉ tiêu sau để phản ánh chất lượng tín dụng: 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sinh lời từ hoạt động tín dụng - Tỷ trọng thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng Tỷ trọng thu nhập lãi từ hoạt Thu nhập lãi từ hoạt động tín dụng = động tín dụng Tổng thu nhập của ngân hàng Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng, qua đó thấy được tầm quan trọng của nó để có biện pháp nâng cao chất lượng của hoạt động cho vay của ngân hàng. Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng càng cao, càng chứng tỏ chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại. 10 - Tỷ lệ sinhllời của tín dụng Lãi từltín dụng Tỷ lệ sinhllời của tín dụng = x 100% Tổng dư nợlbình quân Chỉ tiêu này phản ánhlkhả năng sinhllời của hoạt độngltín dụng ngân hàng, nó cho biết số tiền lãilthu được trên 100 đồngldư nợllà bao nhiêu.
Chỉ tiêu nàylcàng cao chứng tỏ chấtllượng tínldụng càng cao. Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng - Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng được đúng thời hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của Ngân hàng Thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Tỷ lệ nợ Nợ quá hạn = quá hạn Tổng dư nợ Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng ngân hàng.
Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp. 11 - Tỷ lệ nợ xấu.
Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ cho vay Tỷ lệ nợ xấu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng, nó phản ánh những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt. Nếu chỉ tiêu này cao, ngân hàng sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng ngân hàng ở mức thấp và ngược lại. Tuy nhiên nợ xấu là là một vấn đề khó tránh khỏi trong hoạt động tín dụng Ngân hàng, do đó điều quan trọng là NHTM cần duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp nhất là có thể chấp nhận được theo quy định thì tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được.