Chương 1. Cơ sở lý luận về nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại. Thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang. Giải pháp tăng cường xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang.
8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số khái niệm có i n quan * Khái niệm t n d ng Theo tác giả Lê Ngọc Loan (2020), tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) gi a bên cho vay (NHTM và các định chế tài chính và bên đi vay cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác , trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng của NHTM có một số đặc trưng như: tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng của NHTM bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản); quan hệ tín dụng của NHTM đuợc xác lập trên cơ sở có lòng tin; tín dụng của NHTM có tính thời hạn; tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay; vốn vay phải có giá trị tương đương làm đảm bảo; việc thực hiện cấp tín dụng được thực hiện theo kế hoạch thoả thuận trước (vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. * Khái niệm rủi ro t n d ng Tín dụng của NHTM tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.
Rủi ro tín dụng (RRTD) của NHTM được nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau: Theo nhóm tác giả Phan Thị Thu Hà, Lê Thanh Tâm, Hoàng Đức Mạnh 2016 , khái niệm rủi ro tín dụng được phát biểu như sau: - Rủi ro tín dụng là nh ng tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay. - Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi không đúng kì hạn. - Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc không hoàn trả gốc so với thời gian ấn định trong hợp đồng tín dụng. - Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của 9 tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Theo khoản 1 Điều 3 của Thông tư số 11/2021 ngày 30/7/2021 Quy định về Phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (thay thế cho Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và Thông tư số 09/2014 ngày 18/3/2014 sửa đổi bổ sung cho Thông tư số 02/2013/TT-NHNN): "Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc th a thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài". Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại có thể rút ra RRTD gồm các nội dung cơ bản sau: RRTD là khả năng xảy ra các tổn thất phát sinh mà ngân hàng phải chịu do khách hàng không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản vay đó s bị tổn thất.
Tuy nhiên nh ng khoản cho vay luôn hàm chứa rủi ro. Trên quan điểm quản lý ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung. Do vậy, khi tổn thất dưới mức tổn thất dự kiến, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý. RRTD là loại rủi ro gắn liền với danh mục cho vay của ngân hàng.
Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng RRTD s không xảy ra. Tuy nhiên, khả năng hoàn trả của khách hàng có thể bị thay đổi vì nhiều lý do khác nhau. Hơn n a nhiều cán bộ ngân hàng không đủ khả năng thực hiện phân tích tín dụng dẫn tới nguy cơ ngân hàng bị tổn thất do mất vốn.
Vì vậy, RRTD có thể đề phòng, hạn chế nhưng không thể loại trừ. Nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại 10 1. Quan niệm về nợ xấu tại ngân hàng thương mại Có nhiều quan niệm khác nhau về nợ xấu: * Theo tiêu chuẩn quốc tế Dưới đây là một số đặc điểm nhận dạng, đánh giá một khoản tín dụng để sắp xếp chúng vào từng hạng mục chất lượng tín dụng khác nhau do IMF và WB đưa ra. Khoản vay Những đặc thù và thời hạn - Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ Đạt tiêu - Tài sản được bảo đảm hoàn toàn bằng tiền hoặc tương đương chuẩn - Quá hạn dưới 90 ngày - Nh ng điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ Cần theo - Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn dõi - Quá hạn dưới 90 ngày.
- Các nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ Dưới tiêu - Nh ng khoản nợ đã được th a thuận lại chuẩn - Quá hạn từ 90-180 ngày - Không chắc thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện tại. Đáng ngờ - Có khả năng thất thoát. - Quá hạn từ 180-360 ngày - Các khoản vay không thu hồi được Mất - Luôn có khả năng thu hồi lại một phần - Quá hạn hơn 360 ngày. (Nguồn: The Bank Credit Analysis Handbook, author Jonathan Golin) Bản chất của cách phân chia này là luôn căn cứ vào 2 yếu tố định tính và định lượng của một khoản vay.
Định tính là các yếu tố liên quan đến rủi ro của khoản vay, định lượng là ngày qúa hạn của khoản vay. Theo đây, tất cả các khoản vay mà từ mức dưới tiêu chuẩn trở xuống thì được gọi là nợ xấu. * Theo Ngân hàng Trung ƣơng Li n minh châu Âu Nợ xấu trong các NHTM bao gồm: * Nợ không thể thu hồi được: 11 - Nh ng khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc nh ng khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ. - Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
- Nh ng khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ. - Nh ng khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua l và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. * Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng Đây là nh ng khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ s không thể thu hồi đầy đủ như: - Nh ng khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc nh ng khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ.
- Nh ng khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian th a thuận. - Nh ng khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ ngân hàng đầy đủ. - Nh ng khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. * Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo th a thuận; hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay s được thanh toán đầy đủ.
Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. 12 * Theo định nghĩa của Việt Nam Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; và thông tư số 09/2014/TT– NHNN ngày 18/03/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư 02 thì nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là nh ng khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam cũng được xác định dựa theo 2 yếu tố: i đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Qua định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng.
Bản chất của nợ xấu: việc hoàn trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi cho ngân hàng đến thời điểm đáo hạn là hành động hoàn tất mối quan hệ tín dụng hoàn hảo gi a ngân hàng và khách hàng.