Chương 1 : Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan khả năng trả nợ 4 Trình bày cơ sở lý thuyết của các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, các nghiên cứu có liên quan và mô hình sử dụng để đánh giá khả năng trả nợ của KHCN Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này xây dựng mô hình hồi quy và các biến ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi Nhánh Bình Dương. Chương 4: Kết quả và thảo luận Kết quả nghiên cứu và đánh giá mức ý nghĩa của các biến ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân tại NHTMCP Công Thương Việt Nam CN Bình Dương. Chương 5: Kết luận và các hàm ý quản trị Chương này trình bày các hàm ý quản trị giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam CN Bình Dương thông qua các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ 2.1 Cơ sở lý thuyết về tín dụng khách hàng cá nhân 2.1 Tín dụng khách hàng cá nhân 2.1 Khái niệm về tín dụng của khách hàng cá nhân Tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) thì tín dụng ngân hàng chính là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định mà khách hàng phải bỏ ra khi sử dụng dịch vụ tín dụng ngân hàng nào đó.
Một định nghĩa khác theo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017 đã được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua thì tín dụng là một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Như vậy có nhiều định nghĩa về tín dụng nhưng có thể chung quy lại thì tín dụng ngân hàng có các đặc điểm cơ bản sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ bên sở hữu sang bên sử dụng (tức là từ ngân hàng sang khách hàng). - Sự chuyển nhượng này có thời hạn theo quy định của ngân hàng. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro khi sử dụng dịch vụ tín dụng, rủi ro cho cả đôi bên.
Trên cơ sở định nghĩa tín dụng ngân hàng, tín dụng cá nhân chính là hình thức tín dụng mà trong đó Ngân hàng thương mại đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Trong đó, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể có nhu cầu sử dụng tín dụng. 6 Vai trò tín dụng cá nhân đối với sự lưu thông các nguồn vốn xã hội là rất quan trọng. Tín dụng cá nhân giúp điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình (Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015).
Quá trình phát triển của tín dụng cá nhân được hình thành từ lâu đời nhưng đây là một khái niệm vẫn còn mới lạ ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, chủ đề nghiên cứu về tín dụng cá nhân đã và đang thu hút sự nghiên cứu của nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Việt Nam. Với quy mô dân số đông. Việt Nam có nhiều điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số đông (hơn 98 triệu người), đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích thì nhu cầu phát triển tín dụng cá nhân rất tiềm năng tại Việt Nam (Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015).
Một trong những xu hướng phổ biến trong tiêu dùng hiện nay là việc tiêu dùng trước và trả tiền sau hoặc vay để sử dụng các dịch vụ, mua hàng hóa đáp ứng nhu cầu cá nhân và kinh doanh. Vì vậy, các sản phẩm tín dụng cá nhân của ngân hàng được khách hàng cá nhân rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài phát triển tín dụng đối với khách hàng cá nhân là một chủ đề rất cấp thiết hiện nay, đặc biệt tại Vietinbank Bình Dương.2 Đặc điểm của tín dụng của khách hàng cá nhân Theo Lương Trung Ngãi và Phạm Văn Tài (2019), có thể nói tín dụng cá nhân là loại hình tín dụng khác biệt so với tín dụng doanh nghiệp.
Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, đưa ra một số khác biệt như: Quy mô vay đối với tín dụng cá nhân thường nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại lớn nên các ngân hàng thường tốn nguồn lực để quản lý. Ngoài ra, khách hàng cá nhân thường có hai mục đích vay: Thứ nhất là cá nhân, hộ gia đình vay với mục đích bổ sung vốn kinh doanh. Cá nhân, hộ gia đình được pháp luật bảo hộ quyền hoạt động sản xuất, kinh doanh nên nhu 7 cầu vay rất lớn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Tuy nhiên, các khoản vay phục vụ kinh doanh với quy mô không lớn.
Thứ hai là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng. Ngày nay, với sự phát triển các hình thức cung cấp dịch vụ tín dụng cá nhân kèm theo sự da dạng về hàng hóa, dịch vụ, tín dụng cá nhân đã phát triển rất phong phú và đa dạng. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học…Đây cũng chính là những khoản vay phổ biến của khách hàng cá nhân (Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời, 2013). Một đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân là số tiền cho vay hai mục đích này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo.
Tuy nhiên, số lượng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn do hai nguyên nhân như sau: Số lượng khách hàng cá nhân thực sự lớn bởi vì đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Ngoài ra, đối tượng sử dụng dịch vụ tín dụng cá nhân cũng theo nhiều lứa tuổi và nghề nghiệp khác nhau dẫn đến sự đa dạng về số lượng cá nhân sử dụng loại dịch vụ này (Trần Ái Kết và Huỳnh Trung Thời, 2013). Theo Phan Đình Khôi (2013), nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân, vì khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng nhằm phục vụ mục đích kinh doanh cá nhân và tiêu dùng. Tuy nhiên, việc sử dụng tín dụng cá nhân thường dẫn đến các rủi ro đáng kể: rủi ro do thông tin bất cân xứng và rủi ro tác nghiệp.
Rủi ro do thông tin bất cân xứng: Việc thẩm định tất cả thông tin khách hàng khi quyết định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đưa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. 8 Theo Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2019), đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tương đối thuận lợi và đầy đủ do có rất nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với các đối tác…được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu doanh nghiệp nên dễ dàng tiếp cận, xác minh. Tuy nhiên, việc đánh giá nhân thân và các thông tin liên quan khách hàng cá nhân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng và công ty tài chính hiện tại cho vay tiêu dùng có quy trình xác minh, thẩm định thông tin cá nhân rất hời hợt và tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, nguy cơ lừa đảo, sử dụng thông tin cá nhân sai trái để vay vốn tiêu dùng.
Nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khỏe, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay cho ngân hàng. Rủi ro tác nghiệp: bên cạnh rủi ro do bất cân xứng thông tin thì việc xử lý hoặc cung cấp dịch vụ tín dụng cá nhân cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đặc điểm của tín dụng cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của cán bộ tín dụng.
Vì vậy, việc thẩm định của nhân viên tín dụng có thể lơ là, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thất cho ngân hàng. Điều này diễn ra rất nhiều trong thời gian gần đây, đặc biệt là đối với các công ty tài chính như FE Credit của ngân hàng Việt Nam thịnh vượng có quy trình thẩm định lỏng lẽo dẫn đến kẻ gian lợi dụng và sử dụng thông tin cá nhân người khác để vay vốn sử dụng (Trần Thị Thanh Tâm, 2016). Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản.