Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHCN tại BIDV chi nhánh Thanh Xuân.
Khuyến nghị nhằm tăng cường khả năng trả nợ của các KHCN tại BIDV chi nhánh Thanh Xuân. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Chapman (1940), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân.
Tác giả đã nghiên cứu trên 21 ngân hàng lớn nhỏ ở 16 thành phố, sử dụng mẫu rất lớn với 2765 mẫu và sử dụng phương pháp thống kê mô tả đã phân loại những yếu tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng cá nhân bao gồm: đặc điểm cá nhân của người vay (độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc và thời gian cư trú), đặc điểm nghề nghiệp của người vay (nghề nghiệp, lĩnh vực công tác, kinh nghiệm), đặc điểm tài chính (thu nhập, tỷ lệ nợ/thu nhập, tài sản, phương thức hoàn trả), đặc điểm khoản vay (số tiền vay, hình thức vay, thời hạn vay, mục đích vay). Tác giả đã phân tích chi tiết theo từng yếu tố ảnh hưởng tới khả năng trả nợ vay của khách hàng, và tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng trả nợ. Tuy nhiên, tác giả chỉ sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích, chưa sử dụng mô hình hồi quy để phân tích, so sánh và đưa ra kết luận chung sau khi phân tích. Có như vậy thì nghiên cứu sẽ thêm phần thuyết phục và chính xác.
Antwi và cộng sự (2012) phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới rủi ro không trả được nợ tại Ghana cho những khoản vay ở ngân hàng Akuapem thông qua mô hình hồi quy logistic. Cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu gồm 800 quan sát từ năm 2006 tới năm 2010. Biến phụ thuộc trong mô hình là biến giả nhận giá trị 1 nếu khoản nợ được hoàn trả đúng hạn và nhận giá trị 0 nếu ngược lại. Các tác giả đã đi tới kết luận rằng loại hình vay mượn và khoản vay được đảm bảo là hai biến số thực sự có ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của người vay và rằng các ngân hàng nên chú trọng tới khả năng đảm bảo khoản nợ vay bằng tài sản của người vay nợ để cải thiện rủi ro không trả được nợ của người vay.
Nghiên cứu của tác giả được thực hiện chung 5 đối với cả KHCN và KHDN nên sẽ có nhưng yếu tố khác biệt so với nghiên cứu về khả năng trả nợ của KHCN. Không những vậy, nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh không gian và thời gian khác nhau cũng sẽ có những nhân tố khác nhau tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng. Wongnaa và Awunyo-Vitor (2013) đã phân tích các yếu tố quan trọng trong việc cải thiện khả năng trả nợ của nông dân ở vùng Sene quận của Ghana. Kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên đã được sử dụng để chọn 100 người trả lời trong huyện và có cấu trúc bảng câu hỏi được quản lý để thu thập dữ liệu.
Thống kê mô tả và mô hình probit đã được sử dụng. Kết quả cho thấy 42% nông dân trồng khoai mỡ ở huyện Sene là người mù chữ. Nhiều nam giới hơn (93%) có liên quan trong canh tác khoai mỡ hơn nữ giới (7%) và hầu hết nông dân đã kết hôn (91%). Hầu hết những người nông dân ở huyện có quy mô gia đình từ 6-10 hộ (66%) và 54% trong số họ có 1-10 năm kinh nghiệm.
Ngoài ra, kết quả cho thấy giáo dục, kinh nghiệm, lợi nhuận, tuổi tác, giám sát và thu nhập phi nông nghiệp có tác động tích cực đến hiệu suất trả nợ. Ngược lại, giới tính và hôn nhân có tác động tiêu cực về trả nợ trong khi ảnh hưởng của quy mô hộ gia đình được tìm thấy là mơ hồ. Nghiên cứu tập trung chủ yếu với đối tượng khách hàng là hộ sản xuất nên sẽ có những nhân tố đại diện cho hoạt động SXKD tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng là hộ nông dân. Các yếu tố đặc trưng này ít phù hợp khi đưa vào mô hình nghiên cứu đánh giá khả năng trả nợ nói chung của KHCN.
Trong khi đó, các yếu tố thuộc về ngân hàng như kinh nghiệm độ ngũ cán bộ nhân viên, tình hình kiểm tra sau khi sử dụng sau vốn vay cùng các yếu tố liên quan đến đặc điểm vốn vay chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu. Makorere (2014) khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi trả nợ của khách hàng cá nhân tại Tanzania: bằng chứng từ vùng Dar es Salaam và Morogoro đã kết luận rằng, quy mô khoản vay chính là yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân. Theo nghiên cứu của ông, biến “Quy mô khoản vay” giải thích được 38% sự thay đổi của biến phụ thuộc “Khả năng trả nợ”. Rõ ràng khi khoản vay càng lớn thì trách nhiệm trả nợ của khách hàng 6 cá nhân càng cao, tuy nhiên tại vùng Morogogo, thu nhập bình quân đầu người rất cao, hơn nữa chính sách trả nợ trước hạn của các nhà băng tại đây là miễn phí hoàn toàn, điều này khuyến khích khách hàng trả nợ sớm hơn và thiện chí trả nợ của họ cũng cao hơn.
Tuy nhiên nếu đối chiếu tại Việt Nam nói chung và cụ thể hơn là Ninh Thuận nói riêng, thu nhập của đại bộ phận khách hàng cá nhân chỉ ở mức trung bình so với các thành phố lớn, hoàn toàn chưa ổn định. Chính vì thế khi xem xét tại Ninh Thuận, rõ ràng “Quy mô khoản vay” không phải là biến độc lập giải thích rõ ràng nhất cho vấn đề nghiên cứu. Mặc dù vậy, nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các yếu tố thuộc về KHCN và đặc điểm khoản vay. Trong khi đó, các yếu tố liên quan từ phía ngân hàng lại chưa được đề cập đến.
Ahmad & Ebrahim (2014) nghiên cứu các yếu tố đóng góp cho hành vi trả nợ tại ngân hàng. Với 150 mẫu khảo sát bằng bảng câu hỏi, những người được phỏng vấn là người đang vay và đang có nợ quá hạn. Các biến độc lập trong nghiên cứu này bao gồm giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn thu nhập, khoảng cách đến ngân hàng, tiết kiệm, các khoản cho vay khác nhận được, giải thích trước khi vay, giám sát, lãi suất cho vay, thời gian vay, phương thức trả nợ. Biến phụ thuộc được xác định là liệu khách hàng đã trì hoãn việc hoàn trả các khoản nợ vay cho ngân hàng hay không.
Thông qua mô hình hồi quy logit, kết quả của phân tích hồi quy cho thấy các biến số giám sát, công việc, số khoản vay và trình độ có ý nghĩa thống kê. Điều này có nghĩa là bốn biến này có thể là một yếu tố dự báo tốt cho việc không trả nợ của khách hàng. Ngược lại, các biến về khoảng cách đến ngân hàng, lãi suất cho vay, phương thức hoàn trả, thời gian hoàn vốn, nguồn thu nhập, chi tiêu, tuổi, giới tính không đáng kể. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này cần được giải thích một cách thận trọng vì phần lớn những người được hỏi trong nghiên cứu này không biết chữ hoặc giáo dục tiểu học hoặc trung học và có thể hiểu sai câu hỏi hoặc cung cấp câu trả lời sai lệch ngay cả với sự trợ giúp của nhà nghiên cứu.
Trong khi đó các yếu tố liên quan đến ngân hàng như kiểm tra kiểm soát sau cho vay cũng như yếu tố kinh nghiệm của CBTD không được tác giả đề cập đến. Tổng quan nghiên cứu trong nước Hiện nay nhiều tác giả trong nước rất quan tâm nghiên cứu đến khả năng trả nợ của KHCN tại NHTM. Gần đây có một số công trình nghiên cứu thực hiện đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHCN tại các chi nhánh NHTM, hệ thống NHTM. Các nghiên cứu điển hình như sau: Trương Đông Lộc và Nguyễn Thanh Bình (2011) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay đúng hạn của các nông hộ ở tỉnh Hậu Giang.
Tác giả sử dụng số liệu thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 436 nông hộ có vay vốn trong năm 2009 và đến 31/12/2009 vẫn còn dư nợ, phương pháp nghiên cứu mô hình Probit để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay đúng hạn của nông hộ. Kết quả cho thấy khả năng trả nợ vay đúng hạn của nông hộ có tương quan thuận với thu nhập sau khi vay và số thành viên trong gia đình có thu nhập, nhưng lại có tương quan nghịch với lãi suất đi vay. Ngoài ra, kết quả phân tích cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì khả năng trả nợ đúng hạn của họ càng cao. Cuối cùng, kết quả phân tích định lượng còn cho thấy rằng khả năng trả nợ đúng hạn của những hộ đi vay vốn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp có xác suất trả nợ cao hơn những hộ vay vốn sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp.
Đề tài nghiên cứu đã kiểm định được các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ đúng hạn của các hộ nông dân ở tỉnh Hậu Giang với mục đích vay vốn chính là SXKD. Tuy nhiên, cũng giống như các nghiên cứu khác, nghiên cứu chưa đề cập đến mục đích vay vốn của KHCN cũng như chưa đề cập đến các nhân tố thuộc về ngân hàng. Phạm Quang Tín và cộng sự (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam. Tác giả sử dụng mô hình Binary Logistics để kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Theo đó, biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu nhận 2 giá trị bằng 1: Nếu rủi ro tồn tại (khách hàng trả gốc và lãi không đầy đủ hoặc đúng hạn); bằng 0 nếu không có rủi ro tín dụng (khách hàng trả gốc và lãi đầy đủ hoặc đúng hạn). Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã thu thập số liệu thứ cấp từ hồ sơ khách hàng của NHCSXH Việt Nam với kích thước mẫu là 350.