Chương 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÁT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG 1. Chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại 1. Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng Có thê thấy rằng, chất lượng là một phạm trù rất quen thuộc được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, mặc dù vậy cho đến nay vần chưa có một khái niệm đồng nhất về phạm trù chất lượng, tùy theo cách tiếp cận của các lĩnh vực khoa học kliác nhau, nội hàm cùa phạm trùi chất hĩợng được luận giải khác nhau.
Tô chírc quốc tế về tiêu chuân hóa (ISO) đã đưa ra định nghĩa về chất hrợng đó là: "Chat ìượng ìà khâ năng cùa tập hợp các đặc tính cùa một sân phàm, hệ thông hay quá trình đê đáp ứng các yêu cầu cùa khách hàng và các bên có Hên quan ” (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Có thê hiêu rang chất lượng tín dụng Ngân hàng là việc nâng cao tính hiệu quả cùa các klioàn cho vay, đàm bão tốt hơn nhiĩ cầu vay vốn của các khách hàng, tăng cường uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, đàm bảo các khoản túi dụng đều có khả năng hoàn trả đúng kỳ hạn, tránh được tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu. Chất hrợng tín dụng còn được hiêu là khả năng quay vòng đồng vốn của ngân hàng khi họ cho tô chức, doanh nghiệp, người dân vay vốn, nếu đồng vốn đó xoay vòng càng nhanh, đem lại về nhiều lợi nliuận cho ngân hàng thì cũng có thê hiêu rang các khoản tín dụng cùa ngân hàng đang có chất lượng cao, góp phần quan trọng vào phát triên kinh tế xã hội, thúc đây sự tăng trường nhanh và bền vững của nền kinh te (Vũ Minh Hải, 2018). Tại Việt Nam còn tồn tại một số khái niệm kliác nhau về các dịch VỊ1 cùa ngân hàng: > Khái niệm thứ nhất: cho rang các hoạt động đem lại lợi nhuận mà không phải là hoạt động cấp tím dụng thì được gọi là hoạt động dịch VỊI của ngân hàng.
Các hoạt động này đóng góp đáng kê vào việc gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Việc phân chia này là hoàn toàn phù hợp với các ngân hàng trong xu thế kinh doanli cùa ngành ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh chuyên đôi số cũa nền kinli tế (Lê Thế Giới và Lê Văn Huy 2012) 1 > Khái niệm thứ hai: cho rằng tất cả những hoạt động kinh doanh mà đem lại lợi nhuận cho ngân hàng thì đều được gọi là hoạt động dịch vụ. Trong các hoạt động dịch vụ thì hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất, đem lợi nguồn lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng. Khái niệm này hoàn toàn phù hợp với xu the của thế giới hiện nay.
ơ Việt Nam, khái niệm này cũng phù hợp với việc phân tô ngành ngân hàng thuộc ngành dịch vụ. Khái niệm thứ hai có nội hàm rộng hơn khái niệm thứ nhất, phản ánh đúng xu thế cùa ngành ngân hàng. Theo cách hiêu của khái niệm thír hai thi nâng cao chất lượng tín dụng cũa ngân hàng cũng là việc nâng cao chat hĩợng dịch vụ, chất lượng dịch vụ tín dụng sẽ được phàn ánh thông qua cả chì tiêu định tính và chi tiêu định lượng. Ngân hàng luôn phải quan tâm đen nâng cao chất lượng túi dụng đê bảo đảm rằng tiền vốn cho vay sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất.
Sự thỏa mãn hài lòng của khách hàng là quan trọng nhất: Dịch VỊ1 do NH cung ứng cho khách hàng, nếu dịch vụ hoàn hão, có chất lượng tốt thi sẽ được khách hàng sừ dụng lâu dài, gắn bó (Đinh Phi Hổ, 2009). Tính hoàn hảo cùa dịch vụ được hiêu là việc giảm thiêu những sai sót không đáng cỏ trong các hoạt động giao dịch với khách hàng cũng như là các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Quy mô và tỷ trọng lợi nliuận mà ngân hàng thu được tìr hoạt động dịch vụ sẽ Idiông ngừng tăng lên: Ngân hàng luôn phát triên đa dạng các loại hình dịch vụ đê cung ứng cho các nliu cầu khác nhau cùa kliách hàng, phù hợp với mọi loại đối tượng. Bên cạnh đó cũng không ngừng nâng cao chất lượng của các loại dịch vụ.
Như vậy, từ các cách tiếp cận đã nêu ờ trên, trong phạm vi nghiên cứu thuộc lĩnh vưc tài chính ngân hàng, tác giả cho rằng chất lượng tín dụng cùa ngân hàng thương mại chính là việc nâng cao năng lực phục vụ, đảm bão tính hiệu quả cùa khoản vay, xây dựng hình ảnh và uy tín cùa ngân hàng đối với khách hàng. Chat lượng tín dụng phản ánh chất hrợng hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đây chính là một trong hai nghiệp VỊI quan trọng nhất cùa ngân hàng thương mại. Các phương diện đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại Trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chất lượng tín dụng được hiêu là một chi tiêu tông hợp phàn ánh kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, một ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt tóc là ngân hàng đó đang cho vay có hiệu quả, bảo đảm được rằng các khoản cho vay có khả năng thu hồi cả gốc lẫn lãi, tránh được các klioàn nợ xấu, nợ quá hạn. Chat lượng tín dụng cùa ngân hàng thương mại cũng có thê được hiêu là ngân hàng đó đang xây dựng uy tín cùa mình đối với khách hàng, ành hường quyết định đến việc lựa chọn dịch vụ tín dụng của khách hàng trong bối cành ngành ngân hàng đang ngày càng cạnli tranh một cách kliổc liệt.
Do đó, khi đánh giá chat lượng tín dụng của ngân hàng thi phải đánh giá trên nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau, thông thường thi người ta thường đánli giá chất lượng tín dụng cùa ngân hàng thương mại trên ba góc độ như sau: • Đối với khách hàng: là người sử dụng dịch vụ tín dụng của ngân hàng, chất lượng tín dụng được thê hiện ờ việc kliách hàng luôn quan tâm đến hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, trong mắt khách hàng thỉ ngân hàng đang là người có uy tín trên thị trường ngân hàng. Trong bôi cảnh cạnh tranh ngành ngân hàng ngày càng kliốc liệt, khách hàng luôn quan tâm đen các chính sách khách hàng, chính sách lãi suất, chính sách marketting mà ngân hàng đang sử dụng. Neu khách hàng được đáp ứng tốt về hạn mức tín dụng, kỳ hạn trả nợ, phương thức trả nợ thì họ sẽ đánli giá là tín dụng của ngân hàng đang có chất lượng cao. Ngirợc lại, nếu phương thức trả nợ của ngân hàng thiếu sự linh hoạt, hạn mức tín dụng kliông đáp ứng nhu cầu vay vốn đê sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng, phương thức trả nợ cứng nhắc thì rất khó đê khách hàng có thê trờ thành khách hàng trung thành của ngân hàng.
Thậm chí trong mắt khách hàng, ngân hàng có thê mất đi hình ảnh và uy tín của minh. Do đó, theo góc độ tiếp cận ừr các khách hàng thì chất lượng tín dụng cùa ngân hàng được thê hiện ờ hạn mức cấp tín dụng, mức lãi suất cho vay, kỳ hạn thanh toán phải đàm bão tính linh hoạt, phương thức giãi ngân phải nhanh chóng, đặc biệt là tránh được những thủ ựic nrờm rà, nhiều khê trong hoạt động thâm định tín dụng, giải 3 ngân klioản vay. • Đoi với sự phát triên kinh tế - xã hội: Các khoản tín dụng cùa ngân hàng phải góp phần vào việc mờ rộng quy mô hoạt động sãn xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tô chírc, cá nliân trong nền kinh tế, phải phàn ánh được nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Do đó, nếu xét trên góc độ kinh tế xã hội thi chất lượng tín dụng cùa ngân hàng được hiêu là các khoàn vay đó phải nhằm đáp ứng tốt hơn nliu cầu vay vốn của khách hàng đê sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, phải góp phan giải quyết công ăn việc làm, khai thác tốt các nguồn lực hiện có trong xã hội, thúc đây quá trình tích ựi và tập tiling sàn xuất, góp phần gan tăng tnrờng túi dụng với tăng tnrờng và phát triên kinli tế nhanh, ben vững, đảm bảo xây dựng một thị trường tài chính lànli mạnh, có hiệu quả.
• Đoi vói hệ thống ngân hàng thương mại: Đổi với các ngân hàng thương mại, chất lượng tín dụng đirợc hiêu là việc xoay vòng đồng vốn càng nhanh càng tốt, tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng trong bối cảnh ngành ngân hàng cạnh tranh ngày càng kliốc liệt nliư hiện nay. Chat lượng tín dụng còn được hiêu là ngân hàng kliông phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng lĩii ro, các khoản cho vay đều có khã năng thu hồi, tránli được những khoản nợ quá hạn, nợ xấu cho ngân hàng (Nguyền Thị Thu Đông, 2012). Chất lượng tín dụng còn được hiêu thông qua việc gia tăng chi tiêu ROA và ROE cùa ngân hàng. Nhir vậy, có thê thấy rang chất lượng túi dụng là một chì tiêu tông hợp phản ánh chất lượng kinli doanli các sản phâm cho vay cùa ngân hàng trong bối cảnh cạnli tranli gay gắt đê ngân hàng có thê tồn tại, đứng vững được trong ngànli ngân hàng.
Đảm bào được việc sinh lời cho các hoạt động cho vay, hạn chế tối đa các rũi ro có thê sảy ra trong hoạt động cho vay (Nguyền Thị Hoài Phương, 2012). Từ sự phân tích trên có thê hiêu rang, chất lượng túi dụng của ngân hàng là khái niệm mang tính tương đối, vìra cụ thê, vìra trim tirợng. Tính cụ thê được thê hiện thông qua một số chi tiêu có thê đo lường được nliư kết quả kinli doanh của ngân hàng, các klioản nợ xấu, nợ quá hạn. - Tính trim tượng được biêu hiện ờ kliâ năng thu hút kliách hàng vay vốn, đóng góp vào sự phát triên kinh tế xã hội qua tác động hai chiều.
Chất lượng tín dụng ngân hàng 4 còn chịu sự tác động cùa những nliân tố chủ quan và khách quan. Các nliân tố khách quan như môi tnrờng kinli doanli, xu hướng phát triên của nền kinh te, diễn biến giá cà trên thị trường. Các nliân tố chũ quan chăng hạn nhtr trình độ quản lý của cán bộ tín dụng, công nghệ ngân hàng. Luận văn cũa tác già đã tiếp cận trên góc độ NHTM thực hiện việc cho vay phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triên của ngân hàng cũng như tình hình thực tiền kinh tế xã hội của đất nước, làm sao đạt được mục tiêu lợi nhuận kinh doanh trong tìrng thời kỳ.