CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHẤT LƯỢNG TÀI TRỢ DỰ ÁN CHO DNVVN.1 Định nghĩa DNVVN. Cơ sở pháp lý để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay là Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của chính phủ về trợ giúp phát triển với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định thì "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa. Việc xây dựng các tiêu chí để xác định DNVVN có ý nghĩa rất quan trọng vì nó làm cơ sở cho việc theo dõi, phân tích, tổng hợp các số liệu thống kê về tình hình hoạt động của DN, làm căn cứ cho việc ra chiến lược, tìm ra các giải pháp bằng các công cụ, chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ cho loại hình này hoạt động một cách hiệu quả. Để phân loại các DNVVN thống nhất 2 tiêu chí sau: +Tiêu chí định tính: dựa trên các đặc trưng cơ bản của DNVVN như trình độ chuyên môn hóa, mức độ tự động hóa.
Tiêu chí này phản ánh đúng thực tế hoạt động của DNVVN nhưng rất khó xác định trong thực tế, thường được bổ sung cho tiêu chí cụ thể khác và ít được dùng làm căn cứ phân loại. HVTH: Nguyễn Hồ Minh Toàn 10 Lớp Cao học QTKD Vũng Tàu Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội + Tiêu chí định lượng: được căn cứ vào các tiêu chí cơ bản như Doanh thu, số lượng lao động, tổng tài sản, lợi nhuận. Tiêu chí này mang tính chất cụ thể và rất dễ để tổng hợp và phân tích. Tuy nhiên, quá trình phân loại còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: Trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, tính chất đặc điểm ngành nghề và trình độ phát triển của DN, tính phân vùng.
Kết hợp những yếu tố trên nhằm phân loại để có các chính sách hỗ trợ về thuế (tập trung vào yếu tố lợi nhuận), khuyến khích đổi mới công nghệ (chú trọng vào yếu tố số lượng lao động) hay là phục vụ cho các mục tiêu cụ thể của Chính Phủ mang tính xã hội như giải quyết thất nghiệp, tăng việc làm cho các vùng khó khăn.1: Phân loại doanh nghiệp Vừa và Nhỏ theo NĐ số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009. Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao Số lao động Số lao động vốn vốn động từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến nghiệp và thủy sản xuống trở xuống 200 người tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến xây dựng xuống trở xuống 200 người tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 III.
Thương mại và 10 người trở 10 tỷ đồng người đến 50 đồng đến 50 tỷ người đến dịch vụ xuống trở xuống người đồng 100 người HVTH: Nguyễn Hồ Minh Toàn 11 Lớp Cao học QTKD Vũng Tàu Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội Bảng 1.2: Các tiêu chuẩn áp dụng để xác định DNVVN ở một số quốc gia. Các tiêu chuẩn áp dụng Tài Quốc gia Số lao động Tổng số vốn Doanh thu sản Canada <500 <20 triệu CAD Mỹ <500 + <10 Triệu JPY + <50 (ngành bán lẻ) + < 30 Triệu + <100 ( ngành bán Nhật JPY buôn) + <100 Triệu + <300 ( ngành khác) JPY DN Nhỏ: 10 -99 Singapore <500 Triệu SGD DN Vừa :100 - 199 <20 Triệu Bath DN Nhỏ: <50 Thái Lan 20-100 triệu DN Vừa: 50 -200 Bath Trung DN Nhỏ:50 -100 Quốc DN Vừa: 101 -500 Nguồn website http://www. Qua số liệu bảng trên ta thấy, đa số các nước trên thế giới đều chọn hai tiêu chuẩn chủ yếu là số lượng lao động và lượng vốn sản xuất kinh doanh như là hai thước đo chính để phân biệt qui mô DNVVN. Độ lớn trong từng tiêu thức của mỗi quốc gia cũng không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và đặc điểm riêng có của từng nước.
Đối với Maritime Bank, DNVVN là các doanh nghiệp có doanh thu năm trước liền kề trung bình từ 01 đến 70 triệu USD/năm. Tỷ giá quy đổi áp dụng là tỷ giá liên ngân hàng do Ngân Hàng Nhà nước công bố tại thời điểm 31/12 năm trước đó. HVTH: Nguyễn Hồ Minh Toàn 12 Lớp Cao học QTKD Vũng Tàu Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội 1.2 Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.1: Số lượng DNVVN ở Việt Nam. Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tháng 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 6/2008 DNVVN ( vốn 36,305 44,670 54,216 61,977 79,420 98,232 114,340 307,388 <10 tỷ) DNVVN (Số lao 39,897 49,062 59,853 68,687 88,222 109,336 127,600 328,207 động <300 người) Tổng số DNVVN 42,288 51,680 62,908 72,012 91,756 112,950 131,332 349,305 Nguồn: Báo cáo thường niên DNVVN Việt Nam năm 2008 của Bộ KH&ĐT.
Qua thống kê trên cho thấy, đến cuối năm 2006 số DN tại Việt Nam đã tăng 311% so với năm 2000, DNVVN theo tiêu chí về vốn tăng 315% và theo tiêu chí về số lao động là 320%. Đồng thời, số lượng DNVVN cũng chiếm tỷ lệ áp đảo trong tổng số DN với 97% ( nếu theo tiêu chí lao động ) và 87% ( theo tiêu chí về vốn). Đến tháng 06/2008, đã có 349.305 DN đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký trên 1.000 tỷ đồng, trong đó, khoảng 93,96% DN là DNVVN ( theo tiêu chí lao động ), và 88% DN là DNVVN ( theo tiêu chí về vốn).1 Vai trò của DNVVN ở Việt Nam. Doanh nghiệp vừa và nhỏ “đã góp phần đáp ứng nhu cầu về hàng hóa dùng cho xã hội, sản xuất các sản phẩm hàng công nghiệp, thủ công mỹ nghệ và duy trì, phát huy ngành nghề truyền thống.
Phát triển trải rộng trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ những khu vực có điều kiện thuận lợi đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa.Mọi DNNVV có thể tận dụng mọi nguồn lực lao động, kể cả các lao động phổ thông, lao động là người tàn tật, mọi nguồn nguyên liệu, kể cả các nguyên liệu trước kia không dùng đến như bèo tây, cây cỏ. góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa”. DNNVV ngày càng khẳng định vai trò, vị trí và trở thành lực lượng quan trọng trong nền kinh tế. Tại thời điểm năm 2000, vốn sản xuất kinh doanh của DNNVV chỉ chiếm 9,86% tổng vốn các loại hình doanh nghiệp (gồm: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp do tư HVTH: Nguyễn Hồ Minh Toàn 13 Lớp Cao học QTKD Vũng Tàu Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội nhân trong nước thành lập), thì đến năm 2006 đã chiếm 28,16% và năm 2007 chiếm 30,15% cao hơn cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (năm 2006 chỉ chiếm 19,92% và năm 2007 là 22,44%); giá trị tài sản và đầu tư tài chính dài hạn năm 2000 chiếm 8,24% đến năm 2006 tăng lên 20,86% và năm 2007 là 21,21%; Doanh thu thuần năm 2000 chiếm 25,09% đến năm 2006 đã tăng lên chiếm 41,96%, năm 2007 chiếm 42,93% cao hơn cả khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tạo thêm nhiều việc làm. Theo thống kê của Hội DNVVNViệt Nam năm 2008, các DNVVN đóng góp 40% đến 50% việc làm mới hằng năm cho người lao động, đóng góp vào tăng trưởng GDP. Đến tháng 09/2008, mức đóng góp của DNVVN hằng năm khoảng 40%GDP của cả nước, 33% giá trị sản lượng công nghiệp, góp phần tăng thu NSNN. Theo thống kê mới nhất từ website Chính Phủ (chinhphu.vn) cả nước có trên 500.000 DNVVN chiếm tới 98% số lượng doanh nghiệp, với số vốn đăng ký gần 2.
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam (VINASME) đến ngày 31/12/2010, có đến 96% doanh nghiệp đăng ký ở Việt Nam là DNVVN. Nếu tính cả 133.000 hợp tác xã, trang trại và các hộ kinh doanh cá thể thì khu vực này đóng góp vào tăng trưởng tới 60% GDP của nền kinh tế. Khối này tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, chủ yếu mang lại lợi ích đặc biệt cho nguồn lao động chưa qua đào tạo, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội. Hiện các DNVVN sử dụng trên 50% lao động của toàn xã hội.
Qua các số liệu trên cho thấy DNVVN giúp thu hút công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổn định an sinh xã hội. Ngoài ra, với việc huy động các nguồn vốn xã hội vào phát triển kinh tế đất nước, các DNVVN còn góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dân.2 Những hạn chế của DNVVN ở Việt Nam Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng và tình hình kinh tế thế giới cũng như Việt Nam đang trải qua giai đoạn khó khăn, DNVVN Việt HVTH: Nguyễn Hồ Minh Toàn 14 Lớp Cao học QTKD Vũng Tàu Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội Nam đang đứng trước thách thức rất lớn dưới áp lực cạnh tranh của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia. Trong khi đó, bản thân các DNVVN của Việt Nam hiện nay tuy đã có những cải tiến, đổi mới nhất định để đáp ứng với tình hình mới, nhưng vẫn đang tồn tại những hạn chế vốn có của mình. Các hạn chế đó là : - Hạn chế về vốn: Vốn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các DNVVN nước ta, rất nhiều doanh nghiệp hiện nay thiếu vốn.