mở đầu bài nghiên cứu đã viết: “Phó bảng Trần Viết Thọ sinh ngày rằm tháng 9 năm Bính Thân, tức ngày 24 tháng 10 năm 1806, dƣới thời vua Gia Long (1802-1820) tại làng Thâm triều, huyện Đăng Xƣơng, tỉnh Quảng Trị nay là xã Triệu Tài huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình nho học. Ông có húy là Thanh Phúc, tự là Chu Toàn, hiệu là Điềm Tịnh. Ông cũng có tên tu hành là Cƣ sĩ Đại Sƣ” [82, tr. 15 Qua bài viết, Nguyễn Phƣớc Tƣơng đã nhầm lẫn hai chỗ: Thứ nhất, năm Bính Thân (1836) thuộc niên hiệu vua Minh Mệnh chứ không phải niên hiệu Gia Long; Thứ hai, Trần Viết Thọ không thể có hai danh xƣng vừa “Cƣ sĩ” vừa “Đại sƣ” đƣợc, vì cƣ sĩ là ngƣời tại gia, còn đại sƣ thƣờng là trỏ ngƣời xuất gia.
Tiếp theo, tác giả lƣợc kê những chức vụ mà Trần Viết Thọ đã hợp tác với triều đình nhà Nguyễn, ca ngợi nhà nho Trần Viết Thọ bất hợp tác với thực dân Pháp, nhƣng các cứ liệu mà tác giả bài báo sử dụng chỉ là dã sử hoặc truyền thuyết, nên không có sức thuyết phục. Nội dung bài viết đa phần nhằm tán dƣơng công hạnh của một nhà nho bất hợp tác với Pháp, ít dựa vào tƣ liệu nền [Hán Nôm] để nghiên cứu. Chính vì lý do ấy mà nội dung bài viết còn nhiều bất cập về danh xƣng và thông tin xác thực về cuộc đời của một vị Phó bảng triều Nguyễn này. Về Nguyễn Phúc Hồng Vịnh (1851-?) Các ghi chép, khảo cứu về tác giả Nguyễn Phúc Hồng Vịnh trƣớc đây khá sơ sài.
Cho đến nay, chúng tôi mới chỉ tìm thấy ghi chép liên quan đến tác giả Nguyễn Phúc Hồng Vịnh trong Đại Nam chính biên liệt truyện: “Trấn Biên quận công Miên Thanh, tự là Giản Trọng, hiệu là Duân Đình, con thứ 51 của Thánh Tổ Nhân hoàng đế, mẹ là quý nhân họ Lê, anh cùng mẹ với Phong quốc công Miên Kiền, sinh năm Minh Mạng thứ 11 (1830). Con thứ 3 Hồng Vịnh lúc trẻ thông minh nhanh nhẹn, thích ngâm vịnh, phong cách giống nhƣ cha, có tập thơ Đào Trang in khắc. Tuy Lý vƣơng khen là không hổ là con ngƣời cha có tiếng. Gồm thông cả nghề làm thuốc.
Lúc mới ra làm việc trải bổ Tri huyện, đổi sung Trợ giáo, rồi thăng hàm Thị giảng về hƣu” [89, tr. Ghi chép này của Đại Nam chính biên liệt truyện đƣợc nhắc đến ở phần cuối mục Tự trƣớc niên phổ (TTNP) của Nhƣ Nhƣ đạo nhân trong HLSC: “Quốc sử quán soạn bộ [Đại Nam chính biên] liệt truyện thì sự nghiệp lúc sinh thời của Hồng Vịnh đƣợc lƣợc thuật phụ vào phần sau truyện của Tiên công [Nguyễn Phúc Miên Thanh]”. - Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm trong Lịch sử Phật giáo xứ Huế, viết về Nhƣ Nhƣ đạo nhân: “Thế danh là Nguyễn Phúc Hồng Bàng, quê quán của đạo nhân không thấy ghi. Chỉ biết ông là đệ tử của Hòa thƣợng Tâm Truyền ở chùa Báo Quốc, có pháp danh là Trừng Khế, tự là Nhƣ Nhƣ.
Ông sanh vào giờ Dần ngày 15 tháng 01 năm Tân Hợi, tự Đức thứ 5 (1851). […] Đạo nhân có trƣớc thuật Lƣỡng Xuân sơn chí (LXSC) khoảng 100 cuốn, chép thơ văn của bạn bè và chƣ sơn tự Tăng làm ở Thi xã Liên trì. […] Vào mùa xuân năm Kỷ Hợi (1899), Tâm Truyền đại sƣ 16 bảo đạo nhân tục biên bộ Hàm Long sơn chí. Chỉ trong vòng 3 tháng, Nhƣ Nhƣ đạo nhân hoàn thành bộ sách tục biên” [4, tr.
- Trần Trọng Dƣơng trong Khảo sát tình hình văn bản tác phẩm một số tác gia hoàng tộc triều Nguyễn đã giới thiệu một cách khái quát về tác giả Nguyễn Phúc Hồng Vịnh: “Nguyễn Phƣớc Hƣờng Vịnh (?-?) hiệu Trọng Vĩnh1, con thứ ba của Trấn Biên quận công Miên Thanh, thời trẻ thông minh nhanh nhẹn, thích ngâm vịnh, phong cách giống nhƣ cha, kiêm thông nghề thuốc. Lúc mới ra làm việc từng trải chức Bổ tri huyện, sau đổi sung Trợ giáo, rồi thăng hàm Thị giảng. Tác phẩm có Đào Trang tập. Ông viết rất nhiều thơ về cảnh quan xứ Huế.
Thơ ông đƣợm ý vị thiền, cảm hứng trầm lặng. Thơ ông cũng in dấu những suy tƣ của một bề tôi đối với vua và những công việc của đất nƣớc” [17, tr. Bài viết của Trần Trọng Dƣơng đã giới thiệu văn bản Đào Trang tập [VHv.15] của viện Nghiên cứu Hán Nôm. Về văn bản Đào Trang tập, tác giả Di sản Hán Nôm Việt Nam- Thƣ mục đề yếu, cho biết: “VHv.15 gồm toàn bộ tám tập thơ của Hƣờng Vịnh, gồm những bài vịnh cảnh vật, thời tiết, thơ thuật sự, cảm hoài, vịnh sử, thơ thù tặng…” [17, tr.
Nhƣng theo sự khảo sát của Trần Trọng Dƣơng thì văn bản VHv.15 gồm hai bản in ở hai lần in đóng gộp lại. Bản in lần một, chỉ có in Quân Đình thi thảo trích lục 筠亭詩草摘錄 của Miên Thanh và 6 tập thơ của Hƣờng Vịnh. Bản in lần hai có bổ sung một bài thơ cho tập Quân Đình thi thảo trích lục, ngoài ra còn có thêm 4 tâp thơ nữa của Hƣờng Vịnh; phụ thêm tập Lại An thi thảo trích lục 賴安詩草摘錄 (gồm 26 bài thơ) của Hình bộ Thƣợng thƣ Nguyễn Bài Vĩnh Cao do Hƣờng Vịnh phụng hiệu, và Thập nhị đầu-đà hạnh oa ngâm thảo 十二頭陀行窩吟草 của Ƣng Phúc. Mƣời tập thơ của Hƣờng Vịnh trong Đào Trang tập bao gồm: Đào Trang tập nhất: Nghiễn Bắc sơn phòng ngâm sao 硯北山房吟鈔; Đào Trang tập nhị: Lô Hoa thiển thuỷ đình ngâm sao 蘆花淺水亭吟鈔; Đào Trang tập tam: Tiểu Thuý Vân sơn chi sào ngâm sao 小翠雲山之巢吟鈔; Đào Trang tập tứ: Trú hạc ngâm sao 住鶴 吟鈔; Đào Trang tập ngũ: Tam Thuý Lâm tạ ngâm sao 三翠林榭吟鈔; Đào Trang tập lục: Xuân sơn thƣơng thuý nhi tri tiếu hiên ngâm sao 春山蒼翠而知笑軒吟鈔; Đào Trang tập thất: Tùng cúc do tồn chi hoá đài ngâm sao 松菊猶存之化臺吟鈔; Đào Trang tập 1 Hồng Vịnh, hiệu “Vĩnh Trọng”, chứ không phải “Trọng Vĩnh” nhƣ tác giả bài nghiên cứu này viết.
17 bát: Tiên Thuý động thiên ngâm sao 鮮翠洞天吟鈔; Đào Trang hậu tập nhất: Cổ Thuý trai ngâm sao 古翠齋吟鈔; Đào Trang hậu tập nhị: Hạc Tiệp sào ngâm sao 鶴睫吟鈔. Theo thống kê 10 tập, Hƣờng Vịnh còn 250 bài thơ đƣợc chép trong Đào Trang tập. Trên thực tế, thơ Hƣờng Vịnh có khoảng trên 704 bài thơ. Nhƣ Nhƣ là một ngƣời từ nhỏ đã học qua lễ giáo Nho gia, tuổi trung niên đam mê Hoàng- Lão, về sau đến chùa quy y, sau khi từ quan ông thế phát với các đại sƣ chùa Viên Thông, chùa Báo Quốc, trở thành cƣ sĩ tu Phật, nhƣng suy nghĩ của ông không chấp nê hình thức, sống đạm bạc và tinh thần luôn rộng mở, dung thông mọi tƣ tƣởng, thậm chí có ngƣời con gái cũng cho lấy chồng khác đạo.
“Vì ta quy y đại sƣ ở chùa Viên Thông, lại đƣợc đại sƣ chùa Báo Quốc thọ ký. Thƣờng qua lại với các chùa Từ Hiếu, Thiên Hoà, rồi cho phép ngƣời nhà tham gia Giáo hội Phúc Quả”[Hóa đài tự chí]. Cho ngƣời nhà tham gia giáo hội Thiên chúa giáo có nghĩa là ông vừa tôn trọng vừa thân cận với một tôn giáo phƣơng Tây đang tìm cách truyền vào Việt Nam lúc bấy giờ. Điều này trái hẳn với quan điểm của vua Tự Đức khi ban đạo dụ năm 1848 rằng: “Đạo Chúa hiển nhiên là trái với tự nhiên, bởi nó không tôn trọng các tổ tiên đã khuất.
Các thầy giảng đạo gốc Âu châu, là các kẻ đáng tội nhất, sẽ bị ném ra biển, với đá cột quanh cổ, và một phần thƣởng ba mƣơi nén bạc sẽ đƣợc trao cho bất cứ ai bắt đƣợc một ngƣời trong họ. Các thầy giảng gốc Việt Nam ít tội hơn, và trƣớc tiên sẽ bị tra tấn để xem họ có sẽ từ bỏ những sai lầm của mình hay không. Nếu từ chối, họ sẽ in dấu trên mặt và đày đi đến những vùng rừng thiêng nƣớc độc. Còn những ngu-dân thì các quan phải ngăn-cấm, đừng để cho đi theo đạo mà bỏ sự thờ-cúng cha ông, chứ đừng có giết hại” [31, tr.
Chính tinh thần phóng khoáng của Trần Viết Thọ mà trong nội dung câu đối của ngƣời bạn tri kỷ của ông- Thiếu Nham- thân tặng, đã ca ngợi ông là ngƣời dung thông cả bốn tôn giáo lớn: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo và Thiên chúa giáo. Dụng tận nhất tâm sinh, tứ giáo hỗ tham thành chính quả; (Dụng tâm hết một đời, bốn giáo cùng tu thành chính quả) Nhƣ Nhƣ đạo nhân rất lấy làm hài lòng, coi lời chúc tặng của bạn là tấm lòng tri kỷ hiểu thấu đƣợc tâm can mình và thích chí: “Thì đủ biết đó là lời hiểu đƣợc ta vậy!” [Hóa đài tự chí]. Về tác phẩm Hàm Long sơn chí - Nguyễn Lang có ghi trong Việt Nam Phật giáo sử luận: “Sách Hàm Long sơn chí của cƣ sĩ Ðiềm Tịnh trƣớc tác mà Mật Thể đã đƣợc đọc trƣớc khi viết Việt 18 Nam Phật giáo sử lƣợc (đó là một bản chép tay - sách này chƣa từng đƣợc khắc bản) hiện giờ bị thất lạc, chƣa tìm ra đƣợc” [35, tr. - Lê Mạnh Thát trong Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, có giới thiệu tác giả Điềm Tịnh cƣ sĩ và Nhƣ Nhƣ đạo nhân với các tác phẩm: “Hàm Long sơn chí; Dƣơng xuân sơn chí; Đào trang thi tập (Nhƣ Nhƣ); Thiền môn tòng thuyết (Điềm Tịnh)” [56, tr.
Song, đây chỉ là “bản dự kiến danh sách các tác gia và tác phẩm sẽ công bố trong bộ Tổng tập văn học này” [56, tr. - Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm trong Lịch sử Phật giáo xứ Huế, mô tả tác phẩm Hàm Long sơn chí nhƣ sau: “Về hình thức, đây là một bộ sách ở dạng cảo bản, chƣa thấy khắc in san hành. Sách gồm có bao nhiêu tập, bao nhiêu quyển hiện chƣa kiểm đƣợc sau thời gian loạn lạc. Sách đã lƣu hành phân tán nhiều nơi, thật là một điều đáng tiếc.
[…] Ở gáy sách phía trên có in chữ Hàm Long sơn chí; đến gạch kiểu sách chữ Hán xƣa; đến Quyển…; ở dƣới có mấy chữ “Báo Quốc tự tàng bản”, còn lại ba mặt viền màu đỏ để khỏi bẩn” [4, tr. - Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn khi khảo cứu về các vị đại sƣ hòa thƣợng của xứ Thuận Hóa trong cuốn Chƣ tôn Thiền đức Phật giáo Thuận Hoá đã nêu ra đƣợc những nét căn bản về công hạnh và sự nghiệp của nhiều vị đại sƣ, hoà thƣợng có liên quan đến sự nghiệp hoằng dƣơng Phật pháp tại vùng đất cố đô Huế. Trong khảo cứu của hai tác giả viết chung này cũng có nhắc đến tác phẩm HLSC. Tuy nhiên, cuốn sách còn tồn tại nhiều vấn đề sử liệu (sử liệu nêu ra còn mơ hồ), nên tính thuyết phục chƣa cao.