Đặt vấn đề Ngày nay, xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật đang ngày càng được ưa chuộng. Theo tổ chức Thực vật Quốc tế (FBI, 2014), trên thế giới đã phát hiện được 265.000 loài thực vật, chứa khoảng 5 triệu hợp chất hoá học. Trong số đó có ít nhất 6.000 loài được dùng làm thuốc. Cho tới nay đã có khoảng 1.300 cây được nghiên cứu một cách có hệ thống về thành phần hóa học và mang lại giá trị to lớn.
Tuy nhiên, nó chỉ chiếm 0,5% so với số lượng các loài thực vật sẵn có. Để đáp ứng nhu cầu và xu thế của thị trường, việc tìm ra các hoạt chất mới có nguồn gốc từ thực vật là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các nhà nghiên cứu. Đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về các hoạt chất trong thảo dược chứng minh được hiệu quả đối với các vi khuẩn như: các hợp chất phenolic có trong cây hương thảo như carnosol, axit carnosoic, rosmanol, rosmadial, epirosmanol, rosmadiphenol, axit rosmarinic. có khả năng chống oxy hoá (B.
Bozin và cộng sự, 2007)), tinh dầu hương thảo có thể chống lại tất cả các chủng vi khuẩn gram âm (đặc biệt là E. coli) và một số chủng gram dương (O. Celiktas và cộng sự, 2007); allicin có trong tỏi có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn, trị bệnh sán lãi, giun kim, một số bệnh nấm ngoài da (Sarkar và cộng sự, 2006); flavonoid trong hành tây giúp kích thích sản xuất các chất chống oxy hóa, do đó có đặc tính kháng khuẩn và tăng cường miễn dịch mạnh mẽ (suckhoedoisong.vn); rau diếp cá chứa decanoyl-acetaldehyd có tác dụng kháng khuẩn như: ức chế tụ cầu vàng, phế cầu, liên cầu, E. coli, trực khuẩn bạch hầu gây các bệnh lý nhiễm khuẩn nguy hiểm,… (Phạm Ngọc Khôi và Phùng Thanh Sơn, 2017), dân gian thường dùng để thanh nhiệt, giải độc, kháng viêm, tăng cường sức đề kháng của cơ thể.
Sử dụng các loại thảo dược có tác dụng kháng khuẩn thay thế thuốc kháng sinh là sự lựa chọn thông minh vì chúng có nguồn gốc từ thiên nhiên và giúp hạn chế hiện tượng kháng kháng sinh. Theo đó, nó 1 liên quan tới một loạt các lợi ích như: sẵn có trong tự nhiên, dễ phân huỷ sinh học, ít tác dụng phụ, hạn chế việc ảnh hưởng tới môi trường, an toàn vệ sinh cho người và vật nuôi, mang lại các lợi ích kinh tế,… Một số nghiên cứu khoa học hiện đại đã chứng minh rằng cơ thể động vật hay con người thường lưu giữ các hợp chất có tính chống oxy hóa cao như gluthathione, vitamin E, vitamin C,. Khi hàm lượng các chất chống oxy hóa trong cơ thể giảm xuống sẽ làm tăng nguy cơ hủy hoại các tế bào. Tuy nhiên, những ảnh hưởng bất lợi của các tác nhân có liên quan đến gây chết tế bào này có thể được ngăn ngừa bằng cách bổ sung chế độ ăn giàu thực phẩm có chứa chất chống oxy hóa (các loại đậu, rau và trái cây tươi.) với tác dụng có lợi cho sức khỏe con người.
Các chất chống oxy hóa tự nhiên như các hợp chất polyphenol có khả năng loại bỏ gốc tự do, ngăn chặn quá trình oxy hóa rất hiệu quả. Ngoài ra, so với việc sử dụng các chất chống oxy hóa tổng hợp, các hợp chất chiết suất từ tự nhiên có khả năng kháng oxy hóa còn mang lại lợi ích an toàn, không gây tác dụng phụ không mong muốn, không độc hại đến môi trường cũng như con người và có thể được sử dụng trong y học, thực phẩm, dược phẩm. Với những ưu điểm trên, các sản phẩm được chiết xuất từ thảo dược thiên nhiên ngày càng khẳng định được vị thế của nó - là sự lựa chọn hàng đầu vì sự an toàn sức khoẻ. Trong dân gian, người ta thường ăn hạt bí ngô có tác dụng tẩy trừ giun sán, tiêu chảy, chữa sâu răng, củng cố hệ miễn dịch,… Bên cạnh đó còn cải thiện làn da và điều trị mụn trứng cá.
Qua đó, có thể nhận thấy tác dụng kháng khuẩn và chống oxy hoá trong hạt bí ngô đã được con người biết đến từ lâu. Đó là dược liệu có tiềm năng to lớn trong việc nghiên cứu, bào chế và phát triển các sản phẩm dược và mỹ phẩm gần gũi với thiên nhiên và thay thế các chất kháng sinh tổng hợp hiện nay. Vì vậy, tôi lựa chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng ức chế vi khuẩn và đánh giá hàm lượng polyphenol, hoạt tính chống oxy hoá của dịch chiết từ dược liệu hạt bí ngô”. Mục đích nghiên cứu Khảo sát khả năng kháng khuẩn của dịch chiết hạt bí ngô trên một số chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến như: Escheria coli, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Samolnella, Pseudomonas aeruginosa, Geobacillus stearothemophilus.
Đánh giá hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa của dịch chiết hạt bí ngô. Tìm ra dung môi thích hợp để thu được dịch chiết hạt bí ngô có khả năng kháng khuẩn mạnh, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa cao. Đánh giá sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết hạt bí ngô. Ý nghĩa của đề tài Kết quả của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc: Tuyển chọn dược liệu theo mục đích, bao gồm: khả năng kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxy hoá.
Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, tiềm năng về đất đai, khí hậu,… giúp tiết kiệm chi phí sản xuất và không lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên. Là cơ sở cho các đề tài nghiên cứu dược liệu tiếp theo. Mang lại tiềm năng ứng dụng trong y học, dược phẩm, mỹ phẩm vào đời sống hàng ngày. Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, tiềm năng về đất đai, khí hậu,… giúp tiết kiệm chi phí sản xuất và không lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Góp phần khắc phục hiện tượng kháng kháng sinh và chống oxy hoá của các chất tổng hợp hiện nay. Qua đó, mang đến cho người tiêu sản phẩm chất lượng cao, cải thiện sức khoẻ, bảo vệ môi trường, mang lại lợi ích kinh tế cho người sản xuất,… Cung cấp thêm thông tin về điều kiện bảo quản để hoạt chất trong dược liệu được đảm bảo nhất. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về hạt bí ngô Tên gọi khác: Hạt bí đỏ, bù rợ, má ứ (Thái), nam qua tử, phặc đeng (Tày), plắc ropual (K’ho), nhấm (Dao).
Tên khoa học: Cucurbita moschata Duchesne.1: Cây và hạt bí ngô 2. Đặc điểm Cây thảo, sống một năm. Thân có góc cạnh mọc bò hay leo nhờ tua cuống, có lông dày, thường có rễ ở những đốt. Lá đơn, mọc so le, có cuống dài; phiến lá hình trứng rộng hoặc gần tròn, chia thuỳ nông, đầu tròn hoặc hơi nhọn, mép có răng cưa, hai mặt lá có nhiều lông mềm, đôi khi có những đốm trắng ở mặt trên; tua cuốn phân nhánh.
Hoa vàng, có kích thước lớn. Quả to, cùi dày, thường tròn bẹt hay tròn dài, có rãnh sâu, có lông như gai; cuống quả có 5 cạnh, hơi phình rộng ở chỗ đính. Hạt màu trắng xám, hình trứng, dài 7 - 15 mm, rộng 8 - 9 mm, dày 2 mm. Phân bố Chi Cucurbita L.
có khoảng 25 loài, nguồn gốc ở châu Mỹ. Trong đó, có 5 loài là cây trồng. Ở Việt Nam, các loài bí ngô đều là các loài cây trồng quen thuộc khắp từ Bắc chí Nam. Cây được trồng gần như quanh năm, thích nghi cao với điều kiện 4 khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, nhiệt độ từ 18 - 25oC.
Hiện nay, cây Bí ngô không chỉ được trồng ở các vùng nhiệt đới mà còn mở rộng trồng tại các tỉnh vùng núi cao (Sa Pa - Lào Cai, Phố Bảng - Hà Giang) nhiệt độ từ 18 - 220C vào mùa vụ xuân hè ấm áp. Thành phần hóa học Dầu béo (30 - 53%); phytosterol (spinasterol, ergostenol, campesterol, stigmasterol, clerosterol và isofucosterol ); các terpen. Thành phần chính trong dầu hạt gồm: acid linoleic (35 - 68%), acid oleic (15 -48%). Chất không xà phòng hoá đặc trưng là squalen (39 - 46%).
Ngoài ra còn có một ít amino acid (cucurbitin, γ-aminobutyric acid, ethylasparagin, citrullin). Trong đó, squalen và cucurbitin được xem là chất đánh dấu. Tác dụng - Theo Đông y, hạt bí ngô có tính ấm, ăn vào có vị béo, bùi, hạt bí ngô dùng để trị giun sán, sâu răng. - Theo y học hiện đại, chiết xuất hạt bí ngô có tác dụng: Kháng khuẩn: Các lingnan trong hạt bí bao gồm lariciresinol, medioresinol, và pinoresinol có đặc tính kháng khuẩn và đặc biệt là chống virus.
Do đó người ta thường ăn hạt bí ngô có tác dụng tẩy trừ giun sán. Chống oxy hóa: Hạt bí ngô có chứa các chất chống oxy hóa như carotenoid và vitamin E. Các chất chống oxy hóa này giúp giảm viêm và bảo vệ tế bào khỏi các gốc tự do có hại, nhờ đó giúp cơ thể chống lại nhiều bệnh tật. Chống ung thư: bổ sung chiết xuất hạt bí ngô trong chế độ dinh dưỡng giúp làm giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư dạ dày, ung thư vú, phổi, tuyến tiền liệt và ruột kết.
Hoạt chất lignans trong bí ngô còn vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và điều trị ung thư vú. Ngoài ra còn có tác dụng tốt cho tim mạch, giảm lượng đường trong máu, cải thiện chất lượng tinh trùng, cải thiện giấc ngủ, giảm stress, chăm sóc và làm đẹp da,… Các loại dịch chiết cũng đã được nghiên cứu và cho thấy nhiều công dụng như: Dầu bí đỏ ức chế Staphylococcus aureus, Acinetobacter baumanii, Aeromonas veronii, Escherichia coli, Salmonella enterica, Enterococcus 5 faecalis, Pseudomonas aeruginosa, nhóm sinh học Sorbia, Candida albicans, Klebsiella pneumoniae và Serratia marcescens ở nồng độ 2,0 % (v/v). Chiết xuất bí ngô thể hiện hoạt tính kháng khuẩn chống lại cả vi khuẩn gram dương và gram âm (Tadee và cộng sự, 2020). Chiết xuất từ các bộ phận khác nhau của bí ngô, chứa các thành phần hoạt tính sinh học, có tác dụng trị đái tháo đường, kháng khuẩn, hạ đường huyết, chống oxy hóa, chống ung thư, chống đột biến, điều hòa miễn dịch và các tác dụng khác (Krimer-Malesevic, 2020).
Alabassi và cộng sự (2020) đã chứng minh rằng bí ngô là một chất kháng khuẩn và chống oxy hóa mạnh mẽ. Các bộ phận khác nhau của cây bí ngô chứa các thành phần kháng sinh khác nhau bao gồm chất kháng khuẩn và kháng nấm. Một số tác nhân này là các protein như a và ẞ- moschins, peptide kháng khuẩn myeloid (Ng và cộng sự, 2002; Xiong, 2000; Vassiliou và cộng sự, 1998).