Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những thay đổi về giải phẫu, sinh lý ở người cao tuổi liên quan đến gây mê hồi sức 1. Thế nào là người cao tuổi Cuộc sống về kinh tế ngày càng đi lên cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật nó i chung và y học nói riêng kh iến tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên không ngừng. Ở Pháp h iện nay, có gần sáu triệu rưỡi người 70 tuổi, 2,1 triệu người trên 80 tuổi và khoảng 400.000 người sống hơn 90 tuổi.
Những người lớn h ơn 65 tuổi chiếm 12,6%. Ở Việt Nam tuổi thọ trung bình từ 66,6 tuổi năm 1999 đã là 72,2 tuổi năm 2005 và dự kiến sẽ là 75 tuổi vào năm 2020. Hầu h ết các nước phát triền đều quy định người cao tuổi là người trên 65 tuổi. Tuy Liên hợp quốc chưa có tiêu chuẩn chung cho các nước nhưng cũng chấp nhận người cao tuổi là trên 60 tuổi.
Pháp lệnh người cao tuổi Việt Nam cũng quy định người cao tuổi là từ 60 tuổi trở lên [13]. Những thay đổi ở hệ thần kinh Hệ thần k inh là cơ quan đích của gây mê [143]. Về đại thể, kích thước não người cao tuổi giảm, trọng lượng não trung bình giảm 18% ở người 80 tuổi so với người 30 tuổi. Giảm tỷ lệ chất xám cũng như chỉ số sọ não [213].
Về vi thể, số lượng tế bào thần k inh và số lượng synap bị giảm đ i đáng kể ở nhiều vùng khác nhau (vỏ chẩm, đồi thị trước hồi hải mã, nhân lục). Về phương diện sinh hóa, nồng độ chất truyền đạt thần kinh (neurotransmitters) tại chỗ, số lượng hay hoạt động của phần lớn các thụ cảm (receptor) đều giảm. Xu hướng giảm tổng thể về số lượng cũng như hiệu quả dẫn truyền thần kinh tương đư ơng với việc tăng nồng độ các enzym ở mô, như là luan an 4 monoamin oxyd ase làm b ất hoạt một số chất dẫn truyền thần k inh. Sự thay đổi này giư ờng như rất rõ ở tủy sống.
Tuy nhiên mối liên quan giữa sự thay đổi của hệ thần kinh và giảm nhu cầu thuốc mê cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm. Suy giảm trí nhớ chiếm 10% số bệnh nhân trên 60 tuổi và 20% số bệnh nhân trên 80 tuổi [144] [168]. Xuất hiện tình trạng lú lẫn. Tuy nhiên cần ph ân biệt những tình trạng suy g iảm trí nh ớ với tình trạng lú lẫn (có thể phục hồi đư ợc nếu do t hiếu oxy, nhiễm trùng, đ au, rối loạn ho ặc ức chế chuyển hóa gây ra).
Môi trường lạ lẫm ở bệnh viện có thể là tác nhân thúc đẩy việc lú lẫn của bệnh nh ân cao tuổi. Người cao tuổi có ngư ỡng đ au tăng vì vậy m à nhu cầu sử dụng t huốc giảm đau opioid và an thần ít hơn người tr ẻ. Tuy nhiên họ cũng dễ bị ức chế tri giác và hô hấp hơn. Trong thực tế, cần phải giảm liều thuốc gây mê như thiopental hay thuốc mê bay hơi nhóm halogen ở người cao tuổi.
Người cao tuổi giảm đáp ứng khát khi giảm thể tích dịch ngoại bào và tăng độ thẩm thấu huyết tương, vì vậy giảm nhạy cảm với tình trạng thiếu dịch. Những thay đổi ở chức năng hô hấp Ở người cao tuổi bình thường, tất cả các chỉ số hô hấp có thể đo được đều suy giảm dần. Ba cơ chế làm thay đổi thông khí phổi là: giảm mạnh chức năng thông khí của cơ quan hô hấp do giảm trương lực cơ hô hấp [62], sự căng cứng của lồng ngực (vôi hóa các khớp xương sườn, hẹp các khe sống và biến dạng các đốt sống) làm copliance của lồng ngực giảm và thay đổi tính đàn hồi đặc trưng của phổi. Sự thay đổi thông khí là nguyên nhân của việc giảm tất cả thế tích có thể huy động được và lưu lượng khí hít thở, trong khi đó thể tích cặn tăng lên.
luan an 5 Biểu đồ 1. Thể tích phổi theo tuổi [158] Giảm tính đàn hồi của phổi dẫn tới làm tăng compliance [thay đổi thể tích theo thay đổi áp suất] của phổi, mất sự nâng đỡ của phế nang và đường dẫn khí nhỏ so với trẻ [77] dẫn tới giảm thông khí trong khi dung tích sống vẫn bình thường. Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc tăng thể tích đóng [53] (closing volume). Ở những người cao tuổi, phế quản nhỏ có thể đóng trong khi thông khí vẫn bình thường.
Đây là những nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng phân số thông khí-tưới máu [206] và thể tích khuyết tán phế nang [72]. Nó đóng góp chính vào gia tăng chênh lệch phân áp oxy giữa phế nang và động mạch ở người cao tuổi (A-a) Bình thường Giảm Tăng Biểu đồ 1. Biểu đồ O2 - CO2 : Tỷ lệ thông khí/tưới máu được xác định ở mỗi điểm có thể dự tính sự thay đổi của oxy và CO2 trong phế nang [158]. luan an 6 Cấu trúc của phế nang cũng bị thay đổi theo tuổi.
Tổng diện tích bề mặt phế nang giảm và có sự thay đổi của mao mạch. Cả hai điều này giảm khả năng khuếch tán khí phế nang và làm gia tăng chênh lệch A-a. Đây là hình ảnh lâm sàng giống với bệnh phổi mạn tính gây tắc nghẽn thể nhẹ [COPD] là tăng thể tích cặn và dung tích cặn chức năng. Dung tích phổi Xẹp phổi toàn bộ [%] M ối tương quan thấp Thời gian Biểu đồ 1.
Diễn biến của thể tích cặn chức năng (CRF) và thể tích đóng (CF) [158] Việc giảm khuếch tán ở các phế nang giải thích cho ta biết sự giảm oxy thường gặp ở những người cao tuổi [204]. Do vậy cần phải đánh giá hệ hô hấp thật kỹ lưỡng trước mổ vì người cao tuổi đáp ứng với thiếu oxy (hypoxy) và ưu thán (hypercapnie) kém [156],[158]. luan an 7 CRF: Cân bằng giũa giãn và co rút của cơ quan hô hấp ↓ sức giãn của lồng ngực sức co rút của nhu mô phổi CRF khi gây mê Hình 1. Thể tích cặn chức năng (CRF) giảm đi, giảm giãn nở của lồng ngực, làm tăng co rút của nhu mô phổi trong quá trình gây mê là do làm tăng co rút của nhu mô phổi.
(phần bên phải) là do giảm giãn nở của lồng ngực [200] Giảm dịch nhày [161] và các phản xạ ho, nuốt [205] có thể kéo theo rối loạn về thông khí. Nguy cơ ngừng thở sau mổ, sặc sau mổ tăng lên. Nhưng điều n ày có thể liên quan đến sự thay đổi về dược lực học của thuốc gây mê nhiều hơn so với việc nhạy cảm của trung tâm hô hấp. Tóm lại những thay đổi của hệ thống hô hấp gắn liền với sinh lí của người cao tuổi và có thể không được phát hiện ở giai đo ạn trước mổ.
Nhưng nó có thể xuất hiện trong giai đoạn sau mổ hoặc khi bệnh nhân có căng thẳng, hay khi xuất hiện sự tăng đột ngột về nhu cầu sử dụng oxy [205]. Có nhiều phương pháp can thiệp để chống lại sự bất thường này: Đề phòng thiếu oxy (thở oxy trước mổ một cách hệ thống, liệu pháp oxy sau mổ, gây mê nông khi thở tự nhiên ở tư thế nghiêng), tránh mệt mỏi về cơ hô hấp (chỉ định rộng rãi luan an 8 thở máy). Bảo vệ đường hô hấp (rút ống NKQ khi b ệnh nhân tỉnh hoàn toàn), phòng chống sự đáp ứng với thiếu oxy và ưu thán (sử dụng thuốc gây mê tác dụng ngắn, thăm dò và theo dõi giãn cơ), lí liệu pháp về hô hấp. Độ bão hòa oxy của bệnh nhân ở tư thế nằm theo tuổi [13] 1.
Những thay đổi ở chức năng tim mạch Bình thường chức năng tim mạch ở người cao tuổi biến đổi không ngừng: giảm co giãn mạch, giảm số lượng tế bào cơ tim, giảm đáp ứng với kích thích bằng Beta-adrenergic, phì đại thất và giảm số lượng tế bào dẫn truyền cơ tim [134]. Giảm trương lực thất gắn liền v ới phì đại cơ tim làm lưu lượng tim rất phụ thuộc vào tuần hoàn trở về. Khi ngh ỉ ngơi biến đổi lâm sàng này biểu h iện bằng việc tăng huyết áp. Nhưng dấu hiệu chủ yếu của hệ thống tim mạch của người cao tuổi là sự khó thích ứng với những tình huống căng thẳng (tập thể dục, run v.
Với người cao tuổi tiêu thụ oxy tối đa thấp hơn so vởi người trẻ [163] và phân số tống máu cũng như tần số tim tăng ít hơn khi gắng sức. Song song với những thay đổi trên là tỷ lệ mắc bệnh t im mạch cũng tăng dần theo tuổi. Tuổi trên 75 được coi như một yếu tố dự đoán có nguy cơ tai b iến về bệnh tim mạch (tử vong, nhồi máu cơ tim, suy tim) trong luan an 9 giai đo ạn trước mổ ngoài t im. Bệnh xơ vữa động mạch hay gặp ở người cao tuổi nhưng thường không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng hoặc khó khai thác qua tiền sử ở một số bệnh nhân (sa sút trí tuệ, nghe kém hoặc khó khăn trong diễn tả về câu từ).
Việc hỏi bệnh trong những trường hợp này không giúp được kết luận mà cần phải tiến hành thăm khám không xâm nhập rộng rãi hơn (xạ hình, siêu âm t im). Tình trạng vôi hóa các van rất dễ xảy ra ở người cao tuổi [160] và phải được thăm khám bằng siêu âm. Những rối loạn dẫn truyền và nhịp rất thường gặp [84]. Một nghiên cứu trên 24h ở những người không có triệu chứng đã cho thấy rằng 88% những người trên 60 tuổi có biểu hiện ngoại tâm thu và 80% có rối loạn nhịp thất [123].
Trong giai đoạn phẫu thuật không có dự trữ tim vậy nên bác sĩ gây mê phải t iên lư ợng và đ iều trị s ớm các giai đoạn hạ huyết áp (theo dõi chặt chẽ huyết áp động mạch, tránh chậm làm đầy tim, chấp nhận huyết áp cao vừa phải). Lưu lư ợng tim phụ thuộc rất nhiều vào lượng máu trở về tim do đó cần đảm bảo thể tích trong lòng mạch bình thư ờng. Đây một trong những mục tiêu ưu tiên khi gây mê ở người cao tuổi. Cuối cùng, vai trò lên huyết động của thuốc gây mê có tác dụng ngắn (propofol, desflurane, sevoflurane) cho phép kiểm soát huyết áp tốt hơn trong những tình huống huyết động không ổn định.
Những thay đổi ở chức năng thận Mạch máu thận, lọc ở cầu thận và chức năng các ống lượn bị biến đổi ở người cao tuổi [154]; ví dụ: lưu lượng lọc cầu thận t ụt 50% ở 80 tuổi so với ở độ tuổi 20. Người cao tuổi có khả năng mắc tất cả loại suy thận cấp bởi vì - giống như các cơ quan khác - chức năng thận thích ứng kém với tình trạng căng thẳng [133].