CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. UNG THƯ BÀNG QUANG 1. Định nghĩa: Ung thư bàng quang là loại ung thư xảy ra ở bàng quang- cơ quan rỗng nằm tại vùng bụng dưới có chức năng chứa nước tiểu do thận thải ra [25]. Phía trong thành bàng quang là lớp niêm mạc được cấu tạo từ các tế bào chuyển tiếp và tế bào vảy.
Khoảng hơn 90% ung thư bàng quang xuất phát từ tế bào chuyển tiếp, gọi là ung thư biểu mô chuyển tiếp. Chỉ khoảng 8% ung thư bàng quang là ung thư biểu mô vảy. Nguyên nhân gây bệnh: Nguyên nhân ung thư bàng quang đến nay vẫn chưa hoàn toàn rõ rệt, có những trường hợp ung thư bàng quang không tìm ra nguyên nhân. Ung thư bàng quang có liên quan đến hút thuốc lá, phơi nhiễm tia bức xạ, nhiễm ký sinh trùng, tiếp xúc với hóa chất.
Bản chất của ung thư bàng quang là các tế bào trong bàng quang bị đột biến. Các tế bào bình thường sẽ phát triển bất thường, không kiểm soát được và tạo thành khối u tại bàng quang [66]. Triệu chứng bệnh ung thư bàng quang Triệu chứng ung thư bàng quang thường rất khó nhận biết. Tuy nhiên, có những dấu hiệu có thể giúp bệnh nhân phát hiện ra bệnh sớm để kịp thời đến cơ sở y tế để thăm khám như sau [6]: Mệt mỏi, gầy sút, chán ăn Đái máu là dấu hiệu thường gặp nhất.
Đái máu từng đợt, đái máu đại thể, toàn bãi. Đau khi đi tiểu 4 Tiểu rắt, tiểu khó, tiểu không tự chủ, nước tiểu sẫm màu: đây là những triệu chứng xuất hiện đầu tiên, do bàng quang bị kích thích hay bị giảm thể tích. Các triệu chứng của nhiễm trùng đường tiểu, tắc nghẽn đường tiểu do u xâm lấn hay do cục máu đông. Ở giai đoạn muộn của ung thư bàng quang, tế bào ung thư đã di căn xa, sẽ xuất hiện các biểu hiện sau: Đau hông lưng Đau trên xương mu Đau hạ vị Đau tầng sinh môn Đau xương Đau đầu Cũng giống như nguyên nhân gây bệnh, các yếu tô nguy cơ ung thư bàng quang vẫn chưa được nghiên cứu một cách rõ ràng.
Một số yếu tố nguy cơ phổ biến dẫn đến ung thư bàng quang là [6]: Những người lớn tuổi có nguy cơ mắc ung thư bàng quang cao hơn những người trẻ. Người da trắng dễ có nguy cơ ung thư bàng quang hơn người chủng tộc khác. Đàn ông dễ bị ung thư bàng quang hơn phụ nữ. Tiền sử gia đình có người mắc phải ung thư bàng quang là yếu tô nguy cơ của bệnh.
Người đã bị ung thư bàng quang cũng có khả năng tái phát do đã điều trị với thuốc chống ung thư cyclophosphamide làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang [26]. Những người hút thuốc lá có nguy cơ ung thư bàng quang cao hơn hai đến ba lần so với những người không hút thuốc lá. 5 Nghề nghiệp dễ mắc ung thư như làm cao su, chất hóa học, da thuộc, thợ làm tóc, thợ kim khí, thợ in, thợ dệt, tài xế xe tải. Đây là những ngành nghề tiếp xúc thường xuyên với những chất sinh ung.
Những người bị nhiễm ký sinh trùng cũng có nguy cơ ung thư bàng quang. Ngoài ra, các bệnh lý viêm bàng quang mạn tính, nhiễm trùng tiết niệu tái diễn nhiều lẫn hoặc sử dụng ống thông đường tiểu lâu ngày cũng gây nên ung thư bàng quang [27]. Chẩn đoán Để chẩn đoán ung thư bàng quang, cần phải thực hiện các phương pháp sau [28]: + Xét nghiệm nước tiểu tìm tế bào ung thư. + Soi bàng quang: dùng ống nội soi đưa vào niệu đạo để soi.
+ Sinh thiết: sinh thiết được thực hiện trong quá trình soi bàng quang để lấy một mẫu mô nhỏ đem đi soi. + Chụp tĩnh mạch có cản quang: bệnh nhân được tiêm cản quang vào tĩnh mạch, sau đó được thận thải ra và đến bàng quang. Lúc này chụp X quang sẽ thấy được những hình ảnh bất thường của bàng quang. + Có thể chụp cắt lớp vi tính để quan sát đường tiết niệu và mô xung quanh nó.
Điều trị Điều trị ung thư bàng quang hiện nay rất hiệu quả, bệnh có thể dễ dàng chữa khỏi nếu chúng ta phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm [29]. Có những phương pháp để điều trị ung thư bàng quang hiện nay như: *Phẫu thuật điều trị ung thư bàng quang Là phương pháp điều trị ung thư bàng quang phổ biến. Các phẫu thuật bao gồm: cắt bỏ u ung thư bàng quang niệu đạo, cắt bỏ bàng quang bán phần, cắt bỏ bàng quang triệt để, cắt bỏ các hạch lân cận, cắt bỏ một phần niệu đạo. Đối với nam giới có thể phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt, túi tinh và một phần ống dẫn tính, phụ nữ thì cắt bỏ tử cung, buồng trứng, vòi trứng và một 6 phần âm đạo.Với các khối u kích thước nhỏ, ở giai đoạn sớm, phẫu thuật nội soi cắt u qua niệu đạo là lựa chọn hàng đầu do có các ưu điểm như: ít chảy máu, ít đau, thời gian nằm viện ngắn [6].
*Hóa trị Đưa hóa chất vào cơ thể để chống lại tế bào ung thư. Có thể kết hợp các loại thuốc để điều trị cho bệnh nhân. Điều trị hóa chất có thể điều trị riêng lẻ hoặc kết hợp với cả phẫu thuật và xạ trị. Nếu ung thư bàng quang còn ở bề mặt, bệnh nhân sẽ được đưa hóa chất vào bàng quang sau khi đã phẫu thuật lấy u bàng quang qua đường niệu đạo [30].
*Xạ trị + Xạ trị trước khi phẫu thuật để làm giảm kích thước khối u. + Xạ trị sau khi phẫu thuật để tiêu diệt tận gốc các tế bào ung thư. Những bệnh nhân không phẫu thuật được thì tiến hành xạ trị bao gồm xạ trị trong và xạ trị ngoài [31]. Ngoài ra, ung thư bàng quang còn được điều trị bằng một số phương pháp khác như: điều trị sinh học (điều trị bằng miễn dịch): phương pháp này áp dụng sau phẫu thuật lấy u qua đường niệu đạo với u ở bề mặt bàng quang, sử dụng hệ thống miễn dịch sẵn có để chống lại tế bào ung thư.
Đây là biện pháp ngăn ngừa tình trạng tái phát ung thư bàng quang [32]. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ LIÊN QUAN ĐẾN GÂY TÊ TỦY SỐNG 1. Cột sống Cột sống có 33- 35 đốt sống kéo dài từ xương chẩm đến cùng cụt, cong hình chữ S gồm có 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống thắt lưng, 5 đốt cùng và 4-6 đốt cụt [3]. Cột sống có 4 đoạn cong: đoạn cổ cong ra trước, đoạn ngực cong ra sau, đoạn thắt lưng cong ra trước, đoạn cùng cụt cong ra sau.
Vị trí tiếp nối các đoạn cong cũng là những nơi vận động tốt nhất của cột sống. 7 Các gai sau của các đốt sống chạy chéo từ trên xuống dưới. Càng xuống thấp thì chúng càng nằm ngang dần Liên kết giữa hai đốt sống liên tiếp là các mỏm khớp dưới của đốt sống phía trên với mỏm khớp trên của đốt sống phía dưới cung hệ thống dây chằng. Giữa hai đốt sống là khe liên đốt, khe này có chiều rộng khác nhau tùy theo vị trí, là nơi để đưa kim đi qua để thực hiện các kỹ thuật gây tê tủy sống hay gây tê ngoài màng cứng.
1: Sơ đồ cột sống 8 Nguồn: Từ Netter F.H, Atlas of Human Anatomy [3] 1. Các dây chằng và màng *Các dây chằng Hình 1. 2: Các dây chằng đốt sống Nguồn: Từ Netter F.H, Atlas of Human Anatomy [3] - Dây chằng trên gai phủ và bám vào gai sau của các đốt sống từ C7 đến các đốt cùng. - Dây chằng liên gai nối các gai sau lại với nhau.
- Dây chằng vàng nằm ngay phía trước dây chằng liên gai. Dây chằng này dai nhất. Ở vị trí thắt lưng nó dầy nhất, khi chọc kim qua đây, cho ta có cảm giác “sựt”. *Màng não tủy - Tủy sống có ba màng bao phủ: màng cứng, màng nhện và màng nuôi.
Trong đó màng cứng phủ ngoài ống tủy, kéo theo các rễ thần kinh đến tận các lỗ chia. Màng cứng có độ đàn hồi kém [5]. - Màng nhện phủ lên toàn bộ bề mặt thành trong của họp sọ và ống sống. - Màng nuôi bám sát vào chất não và tủy sống.
9 - Giữa màng nuôi và màng nhện là khoang dưới nhện, chứa dịnh não tủy. Giữa chúng cũng có các sợi nhỏ giúp giữ ổn định vị trí cho tủy sống. - Giữa màng cứng với dây chằng vàng là khoang ảo có tên gọi khoang ngoài màng cứng. *Khoang ngoài màng cứng Khoang ngoài màng cứng là một khoang ảo giới hạn bởi màng cứng và dây chằng vàng, kéo dài từ lỗ chẩm đến khe cùng.
Chiều rộng trung bình từ 1- 3 mm, rộng nhất ở mức ngang với đốt sống L2 là 5- 6mm. Khoang chứa toàn bộ các rễ thần kinh sau khi chạy ra khỏi tủy sống, tổ chức liên kết lỏng lẻo, hệ mạch bạch huyết, động mạch và đám rối tĩnh mạch Baston. Khoang có thể tích khoảng 100- 150 ml. Cứ mỗi 1,5 ml dung dịch bơm vào khoang, sẽ lan tỏa lên được một thân đốt [5].
Áp lực trong khoang là âm so với áp suất khí quyển. Nguyên nhân là do: - Sự thay đổi thể tích của các đám rối tĩnh mạch. - Do thay đổi áp lực trong khoang màng phổi thông qua các lỗ chia. Tủy sống và khoang dưới nhện *Tủy sống Tủy sống thuộc hệ thần kinh trung ương, kéo dài liên tục từ lỗ chẩm đến L2 ở người lớn ( L3 ở trẻ em), chiếm khoảng 2/3 chiều dài ống sống.
Phần đuôi tủy có hình chóp gọi là chóp tủy. Từ tủy sống, có các rễ thần kinh đi ra gồm rễ trước dẫn truyền ly tâm và rễ sau dẫn truyền hướng tâm. Các rễ này sẽ hợp với nhau làm một thành dây thần kinh tủy sống trước khi chui qua lỗ liên hợp để đi đến các cơ quan.Các rễ thần kinh cùng cụt tào thành đuôi ngựa chuyển động dễ dàng trong dịch não tủy nên ít bị tổn thương khi chọc tủy sống [65]. *Khoang dưới nhện 10 Khoang dưới nhện nằm trong sống, giữa màng nhện và màng nuôi.
Trong khoang chứa dịch não tủy, tủy sống và các rễ thần kinh. Khoang này có áp lực dương. Dịch não tủy Dịch não tủy nằm trong khoang dưới nhện, có vai trò bảo vệ và dinh dưỡng cho tủy sống, được tạo ra chủ yếu bởi các đám rối màng mạch ở não thất bên, não thất ba và bốn. Phần nhỏ khoảng 10% tạo ra bởi tổ chức não tủy.
Chúng được hấp thu ở các búi tĩnh mạch nhỏ ở xoang tĩnh mạch dọc trên. Đặc điểm của dịch não tủy: Dịch trong, không màu, pH= 7.