Thông khí ngắt quãng và dạng tia trong phẫu thuật tạo hình khí quản - Luận án TS

Nghiên cứu so sánh hiệu quả kiểm soát hô hấp giữa phương pháp thông khí ngắt quãng và thông khí dạng tia trong phẫu thuật tạo hình khí quản. Luận án tiến sĩ

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108

Chuyên ngành

Gây mê hồi sức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

157
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm soát hô hấp trong phẫu thuật tạo hình khí quản

Phẫu thuật tạo hình khí quản là kỹ thuật phức tạp trong lĩnh vực gây mê hồi sức. Bệnh lý hẹp khí quản do nhiều nguyên nhân gây ra. Phổ biến nhất là hẹp sau mở khí quản, sau đặt nội khí quản kéo dài hoặc do khối u. Phẫu thuật này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật viên và bác sĩ gây mê. Giai đoạn cắt nối tạo hình khí quản là then chốt. Phẫu thuật viên cần trường mổ rộng rãi, không bị che khuất bởi ống nội khí quản. Đồng thời, hô hấp của bệnh nhân phải được duy trì liên tục và ổn định. Hai phương pháp thông khí ngắt quãng và thông khí dạng tia được nghiên cứu để giải quyết bài toán này. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng về khả năng kiểm soát oxy hóa và thải carbon dioxide. Nghiên cứu so sánh hiệu quả của hai phương pháp giúp lựa chọn kỹ thuật tối ưu cho phẫu thuật tạo hình khí quản.

1.1. Bệnh lý hẹp khí quản và chỉ định phẫu thuật tạo hình

Hẹp khí quản là tình trạng lòng khí quản bị thu hẹp bất thường. Nguyên nhân phổ biến nhất là hẹp sau mở khí quản cấp cứu và sau đặt nội khí quản nội khí quản kéo dài. Các nguyên nhân khác bao gồm khối u, chấn thương hoặc bệnh lý viêm. Phân độ hẹp khí quản dựa trên tỷ lệ thu hẹp lòng ống so với đường kính bình thường. Khi hẹp nặng, bệnh nhân gặp khó thở nặng, suy hô hấp tiến triển. Phẫu thuật tạo hình khí quản là phương pháp điều trị triệt để nhất. Phẫu thuật cắt đoạn hẹp và nối đầu trên dưới là kỹ thuật thường áp dụng.

1.2. Vai trò của gây mê hồi sức trong phẫu thuật tạo hình khí quản

Gây mê hồi sức đóng vai trò quyết định thành công của phẫu thuật tạo hình khí quản. Bác sĩ gây mê phải đảm bảo duy trì hô hấp ổn định trong suốt cuộc mổ. Đặc biệt ở giai đoạn cắt nối khí quản, đường thở bị gián đoạn hoàn toàn. Bệnh nhân không thể thông khí bằng phương pháp truyền thống. Thuốc mê sử dụng phổ biến gồm propofol, fentanyl và atracurium. Theo dõi huyết áp động mạch xâm lấn và EtCO2 là bắt buộc. Bác sĩ gây mê cần chuẩn bị đầy đủ phương tiện cấp cứu đường thở khẩn cấp.

II. Phân tích vấn đề kiểm soát hô hấp trong phẫu thuật tạo hình khí quản

Kiểm soát hô hấp trong phẫu thuật tạo hình khí quản đặt ra nhiều thách thức lâm sàng lớn. Ở giai đoạn cắt nối khí quản, đường thở bị gián đoạn hoàn toàn. Ống nội khí quản không thể đặt theo cách thông thường. Phẫu thuật viên cần trường mổ sạch sẽ, không bị vướng bởi thiết bị gây mê. Đây là mâu thuẫn cơ bản giữa yêu cầu phẫu thuật và yêu cầu gây mê. Thông khí ngắt quãng là phương pháp truyền thống. Phương pháp này ngắt thông khí khi phẫu thuật viên thao tác, sau đó thông khí lại. Nhược điểm lớn nhất là nguy cơ thiếu oxy và tăng CO2 máu. Mỗi lần ngắt thông khí chỉ kéo dài được một thời gian ngắn. Thông khí dạng tia cung cấp giải pháp thay thế khả quan hơn. Catheter nhỏ được luồn qua trường mổ vào khí quản dưới chỗ cắt. Phương pháp này cho phép thông khí liên tục trong suốt giai đoạn phẫu thuật.

2.1. Hạn chế của phương pháp thông khí ngắt quãng trong phẫu thuật khí quản

Thông khí ngắt quãng hoạt động theo nguyên tắc luân phiên giữa thông khí và ngắt thông khí. Phẫu thuật viên yêu cầu ngắt thông khí khi thao tác cắt nối. Sau đó, bác sĩ gây mê thông khí trở lại để đảm bảo oxy hóa. Thời gian mỗi lần ngắt thường giới hạn dưới hai phút. Với bệnh nhân dự trữ hô hấp kém, thời gian này càng ngắn hơn. Nguy cơ giảm oxy máu và tăng CO2 máu là đáng lo ngại. Nếu cuộc mổ kéo dài, số lần ngắt thông khí nhiều, tích lũy nợ oxy xảy ra. Nhịp tim và huyết áp cũng dao động mạnh.

2.2. Thách thức trong duy trì khí máu động mạch ổn định suốt cuộc mổ

Khí máu động mạch phản ánh trực tiếp hiệu quả trao đổi khí tại phổi. Các chỉ số quan trọng gồm PaO2, PaCO2 và SpO2. Trong phẫu thuật tạo hình khí quản, duy trì PaO2 trên 80 mmHg và PaCO2 từ 35 đến 45 mmHg là mục tiêu. Thông khí ngắt quãng khó đạt mục tiêu này liên tục do gián đoạn thông khí. Thông khí dạng tia có thể duy trì thông khí liên tục nhưng áp lực đường thở khó kiểm soát. Nguy cơ barotrauma và khí phế thũng cần được theo dõi sát. Nghiên cứu so sánh hai phương pháp giúp đánh giá chính xác ưu nhược điểm của từng kỹ thuật.

III. Phương pháp nghiên cứu so sánh hiệu quả hai kỹ thuật thông khí

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp tiến cứu, ngẫu nhiên, trên bệnh nhân phẫu thuật tạo hình khí quản. Địa điểm thực hiện tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108. Đối tượng nghiên cứu gồm bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, ASA I đến III, có chỉ định phẫu thuật cắt nối tạo hình khí quản. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm. Nhóm một áp dụng thông khí dạng tia qua catheter 12F luồn qua trường mổ. Nhóm hai áp dụng thông khí ngắt quãng truyền thống. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm PaO2, PaCO2, SpO2, huyết áp trung bình và tần số tim. Thời điểm đo tại nhiều mốc then chốt: trước gây mê, sau mở khí quản, trong giai đoạn cắt nối và sau nối xong. Dụng cụ sử dụng gồm máy Datex-Omeda, catheter Cook, ống nội khí quản xoắn lò xo. Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê với mức ý nghĩa p nhỏ hơn 0,05.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Thiết kế nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, hai nhóm song song. Cỡ mẫu được tính dựa trên công thức thống kê với sai số cho phép. Tiêu chuẩn lựa chọn gồm bệnh nhân hẹp khí quản có chỉ định phẫu thuật tạo hình, ASA I đến III, đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ gồm bệnh nhân suy hô hấp nặng, bệnh tim mạch mất bù, rối loạn đông máu nặng. Bệnh nhân được bốc phiếu ngẫu nhiên để phân vào nhóm thông khí dạng tia hoặc nhóm thông khí ngắt quãng. Tất cả đều được gây mê theo phác đồ chuẩn hóa.

3.2. Kỹ thuật thông khí dạng tia và thông khí ngắt quãng trong phẫu thuật

Thông khí dạng tia sử dụng catheter đường kính nhỏ 2 đến 5 mm, dài 45 đến 50 cm. Catheter được luồn qua ống nội khí quản vào khí quản dưới chỗ cắt, cách carina 1 đến 2 cm. Máy thông khí dạng tia cung cấp tần số từ 100 đến 150 lần mỗi phút. Áp lực phụt được điều chỉnh theo thể trạng bệnh nhân. Thông khí ngắt quãng thực hiện bằng cách ngắt hoàn toàn thông khí khi phẫu thuật viên cắt nối. Sau đó, bác sĩ gây mê thông khí lại bằng tay qua ống nội khí quản đầu ngoại vi. Cả hai phương pháp đều được theo dõi EtCO2 và khí máu động mạch liên tục.

IV. Kết luận và ứng dụng lâm sàng của nghiên cứu kiểm soát hô hấp

Nghiên cứu cho thấy thông khí dạng tia có hiệu quả kiểm soát hô hấp vượt trội hơn thông khí ngắt quãng. Nhóm thông khí dạng tia duy trì PaO2 và PaCO2 ổn định hơn trong giai đoạn cắt nối khí quản. SpO2 được giữ trên 95% liên tục ở nhóm này. Nhóm thông khí ngắt quãng ghi nhận dao động lớn hơn về khí máu động mạch. Huyết áp trung bình và tần số tim cũng ổn định hơn ở nhóm thông khí dạng tia. Tác dụng không mong muốn như giảm oxy máu nặng xảy ra ít hơn. Nghiên cứu xác nhận thông khí dạng tia qua catheter nhỏ là phương pháp ưu việt. Phương pháp này cho phép thông khí liên tục mà không cản trở phẫu thuật viên. Tuy nhiên, nguy cơ barotrauma và khí phế thũng cần được kiểm soát chặt chẽ. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, hỗ trợ lựa chọn kỹ thuật gây mê tối ưu cho phẫu thuật tạo hình khí quản tại các trung tâm phẫu thuật lồng ngực.

4.1. So sánh hiệu quả kiểm soát hô hấp giữa hai phương pháp thông khí

Kết quả nghiên cứu cho thấy PaO2 trung bình ở nhóm thông khí dạng tia cao hơn đáng kể so với nhóm thông khí ngắt quãng. PaCO2 cũng được duy trì trong giới hạn bình thường tốt hơn ở nhóm thông khí dạng tia. Thời gian SpO2 dưới 90% ngắn hơn rõ rệt. Nhóm thông khí ngắt quãng ghi nhận nhiều hơn các cốc giảm oxy máu nặng. Hiệu quả kiểm soát hô hấp của thông khí dạng tia được thể hiện rõ nhất ở giai đoạn cắt nối khí quản. Đây là giai đoạn đường thở bị gián đoạn hoàn toàn.

4.2. Ứng dụng lâm sàng và hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo

Kết quả nghiên cứu hỗ trợ áp dụng thông khí dạng tia như phương pháp ưu tiên trong phẫu thuật tạo hình khí quản. Các trung tâm phẫu thuật lồng ngực và đường hô hấp trên nên trang bị hệ thống thông khí dạng tia. Đào tạo bác sĩ gây mê về kỹ thuật này là cần thiết. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên tập trung đánh giá trên cỡ mẫu lớn hơn. Nghiên cứu đa trung tâm giúp khẳng định tính phổ quát của kết quả. Việc ứng dụng công nghệ theo dõi mới cũng cần được tích hợp để nâng cao an toàn bệnh nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả kiểm soát hô hấp của phương pháp thông khí ngắt quãng và thông khí dạng tia trong phẫu thuật tạo hình khí quản

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Điều trị hẹp khí quản là một vấn đề nan giải, thách thức đối với những ngƣời thầy thuốc do tính chất cấu tạo phức tạp của đƣờng thở. Nguyên nhân gây hẹp khí quản có thể gặp do bệnh lý các loại u nguyên phát hoặc polip biểu mô lòng khí quản, các loại u khí quản thứ phát từ các cơ quan lân cận nhƣ tuyến giáp, thực quản, ung thƣ phổi di căn …gây hẹp. Ngoài ra còn gặp tổn thƣơng khí quản do chấn thƣơng hoặc vật nhọn, do đặt ống nội khí quản kéo dài, biến chứng sau thủ thuật mở khí quản, do lao. Khi sẹo ở thanh quản hay khí quản làm hẹp khẩu kính đƣờng thở trên 60% thì bắt đầu xuất hiện triệu chứng khó thở [97].

Điều trị hẹp khí quản có nhiều phƣơng pháp nhƣ nong khí quản, dùng laser CO2….nhƣng triệt để nhất vẫn là phẫu thuật tạo hình khí quản.Việc đảm bảo gây mê hồi sức trong phẫu thuật tạo hình khí quản là một vấn đề rất khó đối với các nhà gây mê hồi sức. Do tính chất phức tạp và nguy hiểm của phẫu thuật. Đặc biệt, cả phẫu thuật viên và bác sỹ gây mê đều thao tác trực tiếp trên đƣờng thở. Vì vậy, làm thế nào để vừa đảm bảo thông khí hiệu quả cho ngƣời bệnh, vừa tạo phẫu trƣờng rộng rãi cho phẫu thuật là vấn đề khó khăn nhất [120],[122].

Tác giả Bradly (2020) [40], Chillitian (2019) [44] tổng kết đƣa ra 5 phƣơng pháp kiểm soát hô hấp trong phẫu thuật tạo hình khí quản là: bệnh nhân tự thở, thông khí ngừng thở ngắt quãng (apneic intermittent ventilation), thông khí dạng tia (jet ventilation), ngừng thở với oxy lƣu lƣợng cao (high flow apneaic), tuần hoàn ngoài cơ thể CPB (cardiopulmonary bypass), ECMO.trong lúc ngừng thông khí. Các tác giả đều thấy rằng, việc lựa chọn phƣơng pháp thông khí phụ thuộc vào một số yếu tố, nhƣ đặc điểm bệnh lý hẹp khí quản, trang thiết bị sẵn có, kinh nghiệm của phẫu thuật viên và bác sỹ gây mê. Cho dù áp dụng phƣơng pháp nào thì cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của toàn bộ kíp phẫu thuật. Tại Việt Nam, phẫu thuật tạo hình khí quản chỉ mới đƣợc thực hiện ở 1 một số bệnh viện chuyên sâu nhƣ bệnh viện Trung ƣơng Quân đội 108, bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Saint Paul, bệnh viện Chợ Rẫy….

Tuy nhiên, chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về các phƣơng pháp thông khí trong phẫu thuật tạo hình khí quản. Thông khí ngừng thở ngắt quãng là phƣơng pháp đơn giản, dễ sử dụng; nhƣợc điểm là bệnh nhân phải ngừng thở khi cắt nối khí quản, phẫu trƣờng bị gián đoạn [10],[44]. Thông khí dạng tia đã đƣợc ứng dụng trong các phẫu thuật, thủ thuật liên quan khí phế quản từ những năm 1970 với ƣu điểm an toàn, trƣờng mổ rộng rãi [56],[104]. Đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng thông khí dạng tia trong phẫu thuật khí phế quản [58],[93],[96],[118].

Tuy nhiên, tại Việt Nam, chƣa có nhiều nghiên cứu về sử dụng phƣơng pháp thông khí này. Xuất phát từ vai trò của việc kiểm soát hô hấp trong mổ tạo hình khí quản, cũng nhƣ từ thực tế lâm sàng, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu hiệu quả kiểm soát hô hấp của phƣơng pháp thông khí ngắt quãng và thông khí dạng tia trong phẫu thuật tạo hình khí quản ” với 2 mục tiêu: 1. So sánh hiệu quả kiểm soát hô hấp của phương pháp thông khí ngừng thở ngắt quãng với thông khí dạng tia trong phẫu thuật tạo hình khí quản. Đánh giá ảnh hưởng lên huyết áp, tần số tim và một số tác dụng không mong muốn của hai phương pháp thông khí trên.

2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh lý hẹp khí quản 1. Khái niệm hẹp khí quản Hẹp khí quản (HKQ) là biến chứng do tổn thƣơng khí quản (KQ) làm hẹp khẩu kính đƣờng thở. Theo phân loại của Myer và Cotton thì hẹp ở KQ đƣợc tính là độ 1 khi khẩu kính đƣờng thở hẹp 50% và bắt đầu xuất hiện triệu chứng khó thở khi gắng sức [98].

Theo Mostafa thì khi đƣờng kính KQ hẹp trên 75% sẽ khó thở khi nghỉ ngơi [97]. Nguyên nhân gây hẹp khí quản Nguyên nhân gây HKQ thƣờng gặp là do di chứng sau đặt ống nội khí quản (NKQ) kéo dài, sau mở khí quản (MKQ), do các khối u nguyên phát hoặc thứ phát vùng khí phế quản, do ung thƣ tuyến giáp xâm lấn, do bẩm sinh. Hẹp khí quản bẩm sinh HKQ bẩm sinh hiếm gặp bao gồm thay đổi bất thƣờng đƣờng kính của KQ. Nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, tỉ lệ nam/nữ là 2:1.

Trong hầu hết các trƣờng hợp, HKQ bẩm sinh bao gồm dị dạng lồng ngực hình phễu của KQ và thiếu hụt các vòng sụn KQ. HKQ có độ dài khác nhau và có thể kéo dài tới phế quản chính [97]. Hẹp khí quản sau đặt ống nội khí quản Đối với ngƣời lớn thì đặt ống NKQ kéo dài chiếm hầu hết các trƣờng hợp vì không tiên lƣợng đƣợc bệnh nhân (BN) sau tai nạn hoặc hôn mê bởi bất kì nguyên nhân gì. MKQ thƣờng bị trì hoãn và chỉ thực hiện sau cùng khi mô KQ bị tổn thƣơng trầm trọng, làm tăng nguy cơ HKQ sau đặt ống.

Đây là nguyên nhân hay gặp nhất gây HKQ ở ngƣời lớn [3],[97],[107]. Hẹp khí quản sau mở khí quản. MKQ có thể gây tổn thƣơng thanh KQ do làm sập thành trƣớc KQ trong 3 khi đặt ống canuyn, hoặc mở quá cao vào vùng hạ thanh môn gây tổn thƣơng sẹo hẹp cho BN. Sự nhiễm khuẩn tại lỗ MKQ làm chậm quá trình lành bệnh và dẫn đến tổn thƣơng dạng sẹo gây hẹp.

Nếu nhiễm khuẩn nặng thì thậm chí có thể gây viêm hoại tử sụn, tiêu sụn và hình thành sẹo hẹp [96]. Hẹp khí quản do chấn thương thanh khí quản Khi thanh quản bị chấn thƣơng trực tiếp làm vỡ khung sụn, tụ máu trong các khoang thanh quản, làm phù nề và đứt rách niêm mạc. Sau chấn thƣơng sẽ xuất hiện phản ứng viêm vô trùng hoặc nhiễm trùng. Sau đó là quá trình hóa sẹo, sẹo xuất hiện và có sự co kéo sẹo, tạo nên sẹo hẹp.

Vị trí sẹo và mức độ tổn thƣơng phụ thuộc vào mức độ chấn thƣơng và phản ứng của cơ thể ngƣời bệnh với chấn thƣơng đó [64], [97]. Một số nguyên nhân khác: HKQ do viêm nhiễm đƣờng thở, do khối u nguyên phát hoặc thứ phát, do ung thƣ tuyến giáp di căn, tự phát, do trào ngƣợc dịch dạ dày, do uống nhầm hóa chất hoặc cố ý uống hóa chất. Phân độ hẹp khí quản 1. Phân độ theo Cotton Robin Cotton dựa vào kết quả nội soi và chụp cắt lớp vi tính để đánh giá khẩu kính của đƣờng thở còn lại và chia HKQ ra làm 4 mức độ tổn thƣơng khác nhau [98].

- Cotton I: hẹp dƣới 50% khẩu kính đƣờng thở. - Cotton II: hẹp từ 51% - 70% khẩu kính đƣờng thở. - Cotton III: hẹp từ 71% - 99% khẩu kính đƣờng thở. - Cotton IV: hẹp 100% khẩu kính đƣờng thở, không còn nhận thấy lòng đƣờng thở.

Phân loại hẹp khí quản theo vị trí tổn thương: - Thanh quản: + Trên thanh môn 4 + Thanh môn: mép trƣớc, mép sau. + Dƣới thanh môn: (hẹp hạ thanh môn). - Khí quản: + Khí quản cổ + Khí quản ngực + Khí quản vùng carina + Phế quản + Phối hợp thanh khí quản [107] 1. Phân độ hẹp dựa trên liên quan phía trên và độ dài đoạn hẹp: - Độ 1: HKQ dƣới thanh môn và dài <1cm - Độ 2: HKQ gần thanh môn và dài >1cm - Độ 3: HKQ hoặc dƣới thanh môn nhƣng không liên quan tới thanh môn - Độ 4: HKQ liên quan tới thanh môn [8] 1.

Các phƣơng pháp điều trị hẹp khí quản 1. Điều trị nội khoa Điều trị HKQ là một trong những điều trị phức tạp nhất do tính chất dễ bị kích thích, dễ quá sản của niêm mạc hô hấp ở một vùng rất dễ bị chấn thƣơng. Điều trị bảo tồn đƣợc chỉ định ở BN có hẹp xuất hiện sau khi tổn thƣơng mà rối loạn thông khí còn ít. Trong một vài BN điều trị phù hợp có thể ngăn cản tiến trình hẹp và giúp BN tránh khỏi can thiệp xâm lấn.

Liệu pháp Oxy kết hợp với kháng sinh, corticoid và giảm tiết có thể ngăn cản sự tiến triển của bệnh. Tuy nhiên theo dõi chặt chẽ là bắt buộc và BN phải đƣợc khảo sát và đánh giá đúng một cách kịp thời [97], [12]. Điều trị can thiệp Đốt laser, điện đông điều trị hẹp khí quản Điện đông cao tần là kỹ thuật nhằm loại bỏ các khối u, tổ chức sẹo của khí phế quản thông qua việc sử dụng hiệu ứng nhiệt của dòng điện nhằm tránh các tác dụng phân ly điện giải và các hiệu ứng điện từ gây kích thích các 5 tế bào thần kinh cơ bằng cách làm đông máu với nhiệt độ vừa phải [5],[32]. Điện đông cao tần đƣợc chỉ định cho những trƣờng hợp BN có các khối u lành tính hay ác tính trong lòng KQ và phế quản lớn hoặc sẹo khí phế quản ảnh hƣởng đến chức năng thở của BN, cầm máu cho các BN có ho ra máu.

Chống chỉ định:[5] - Tổn thƣơng u ở ngoài khí phế quản đè ép khí phế quản. - Các tổn thƣơng sùi lân cận dụng cụ phế quản (stent) bằng kim loại hoặc nhựa đã đặt trƣớc đó. - BN mang máy tạo nhịp nhân tạo (pace marker): máy có thể bị hỏng. Đặt ống nong thanh - khí quản, stent silicone.

- Mục đích: Làm giảm sự tắc nghẽn đƣờng thở, làm rộng lòng KQ (những nơi bị hẹp). Stent có thể đƣợc đặt tạm thời hoặc vĩnh viễn [8], [10], [80]. Chỉ định:[128] - HKQ độ III, độ IV đã đƣợc phẫu thuật và tái hẹp - HKQ do mềm sụn, mất chất khung sụn. - Hẹp do lao, hẹp do u, hẹp đoạn dài - Hẹp đoạn thấp, khó phẫu thuật - Sử dụng nhƣ một giải pháp tạm thời để BN phục hồi sức khỏe hoặc phòng ngừa khỏi chết vì suy hô hấp.

Chống chỉ định: [66] - BN có các bệnh toàn thân nặng. - Các tổn thƣơng mất mô, tổ chức lớn gây chít hẹp hoàn toàn thanh KQ - Không thể gây mê toàn thân. - Dị ứng với chất liệu nong. Điều trị ngoại khoa Phẫu thuật tạo hình khí quản Phẫu thuật đang trở thành phƣơng pháp điều trị tiêu chuẩn cho HKQ tại 6 nhiều trung tâm.

Các phƣơng pháp điều trị bảo tồn chỉ giải quyết đƣợc phần niêm mạc, trong khi tổn thƣơng chiếm toàn bộ chiều dày thành KQ nên dễ tái phát. Hơn nữa, với tổn thƣơng hẹp do khối u thì không giải quyết đƣợc khối u và có nhiều rủi ro trong quá trình can thiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ