CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. An toàn người bệnh Theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa, an toàn người bệnh là không có các tác hại có thể phòng ngừa cho bệnh nhân và giảm thiểu các nguy hại không cần thiết có liên quan tới chăm sóc y tế đến mức tối thiểu có thể chấp nhận được. Mức tối thiểu có thể chấp nhận được đề cập đến các kiến thức hiện tại, nguồn lực sẵn có và bối cảnh chăm sóc y tế được thực hiện (14).
Theo Cơ quan nghiên cứu chăm sóc và chất lượng y tế, “an toàn người bệnh là một ngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến hệ thống cung cấp dịch vụ tin cậy” (15). Kỷ luật của an toàn người bệnh là những nỗ lực được phối hợp nhằm ngăn chặn những tổn hại do chính quá trình chăm sóc y tế gây ra tới cho bệnh nhân. An toàn người bệnh ngày càng được công nhận như vấn đề có tầm quan trọng toàn cầu (14). An toàn của người bệnh là nền tảng để cung cấp các dịch vụ y tế thiết yếu có chất lượng.
Có một sự đồng thuận rõ ràng rằng các dịch vụ y tế chất lượng trên toàn thế giới phải hiệu quả, an toàn và lấy con người làm trung tâm. Ngoài ra, để nhận ra lợi ích của việc chăm sóc sức khỏe có chất lượng, các dịch vụ y tế phải kịp thời, công bằng, tích hợp và hiệu quả. Để đảm bảo thực hiện thành công các chiến lược an toàn cho người bệnh; Tất cả đều cần có các chính sách rõ ràng, năng lực lãnh đạo, dữ liệu để thúc đẩy cải tiến an toàn, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có tay nghề cao và sự tham gia hiệu quả của người bệnh vào việc chăm sóc của họ (16). Sai sót y khoa, sự cố y khoa Sai sót y khoa: Thực hiện công việc không đúng quy định hoặc áp dụng các quy định không phù hợp (17) Sự cố - Event: Điều bất trắc xảy ra với người bệnh hoặc liên quan tới người bệnh (17) Sự cố không mong muốn – sự cố y khoa (Adverse Events): “là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố 5 khách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sức khỏe, tính mạng người bệnh (18).
Theo Phòng sức khỏe và dịch vụ con người Mỹ: Sự cố không mong muốn gây hại cho người bệnh do hậu quả của chăm sóc y tế hoặc trong y tế. Để đo lường sự cố y khoa các nhà nghiên cứu y học của Mỹ dựa vào 3 nhóm TC: 1/ Các sự cố thuộc danh sách các sự cố nghiêm trọng, 2/ Các tình trạng vấn đề sức khỏe người bệnh mắc phải trong bệnh viện và 3/ Sự cố dẫn đến 1 trong 4 thiệt hại nghiêm trọng cho người bệnh nằm trong Bảng phân loại mức độ nguy hại cho người bệnh (19).1: Phân loại sự cố y khoa theo mức độ nguy hại Mức độ Mô tả Mức độ nguy hại A Sự cố xảy ra có thể tạo ra lỗi/ sai sót Không nguy hại cho NB B Sự cố đã xảy ra nhưng chưa thực hiện trên NB C Sự cố đã xảy ra trên NB nhưng không gây hại D Sự cố đã xảy ra trên NB đòi hỏi phải theo dõi E Sự cố xảy ra trên NB gây tổn hại sức khỏe Nguy hại cho NB tạm thời đòi hỏi can thiệp chuyên môn F Sự cố xảy ra trên NB ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc kéo dài ngày nằm viện G Sự cố xảy ra trên NB dẫn đến tàn tật vĩnh viễn H Sự cố xảy ra trên NB phải can thiệp để cứu sống NB I Sự cố xảy ra trên NB gây tử vong Nguồn: Medication Errors Council Revives and Expended (20) 1. Phẫu thuật Phẫu thuật được định nghĩa là “những thủ thuật dùng trong ngoại khoa để chữa bệnh hoặc chẩn đoán bệnh”. Phẫu thuật còn được sử dụng để tìm ra phương pháp mới, kỹ thuật mổ hiệu quả hơn.
Phẫu thuật thường đi kèm gây mê, chống đau và có thể gây những tai biến, sang chấn cho người bệnh trong quá trình PT (21). An toàn phẫu thuật Theo Tổ chức Y tế Thế giới, an toàn phẫu thuật được định nghĩa là “sự phòng ngừa các nguy cơ sai sót có thể xảy ra trong quá trình phẫu thuật cho người bệnh” (22). Thông tư 19/2013/TT-BYT quy định yêu cầu bắt buộc về an toàn phẫu thuật được thực hiện trong quá trình phẫu thuật như một yêu cầu của an toàn người bệnh trong BV (23). Bảng kiểm an toàn phẫu thuật Bảng kiểm an toàn phẫu thuật (BKATPT) được định nghĩa là “một bảng kiểm quy trình các bước kiểm tra, đối chiếu việc thực hiện an toàn cho người bệnh trong quá trình phẫu thuật” (25).
Bảng kiểm của WHO đưa ra năm 2009 nhằm mục đích giúp ekip nhân viên y tế phẫu thuật thực hiện tốt các bước an toàn trong quá trình PT, giúp giảm tỷ lệ tai biến tử vong, các sự cố không mong muốn do PT gây ra (25).1: Bảng kiểm an toàn phẫu thuật của WHO năm 2009 7 1. Giải pháp bảo đảm an toàn phẫu thuật cho người bệnh Mục tiêu an toàn phẫu thuật của Tổ chức Y tế Thế giới Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã đưa ra 10 mục tiêu trong thực hiện ATPT như sau: 1. Phẫu thuật đúng người bệnh, đúng vùng mổ 2. Khi làm giảm đau, sử dụng các phương pháp phù hợp tránh gây tổn hại cho người bệnh 3.
Đánh giá và chuẩn bị đối phó hiệu quả với nguy cơ tắc đường thở và chức năng hô hấp 4. Đánh giá và chuẩn bị tốt để xử lý nguy cơ mất máu 5. Tránh sử dụng đồ hay thuốc gây dị ứng ở những người bệnh có nguy cơ dị ứng 6. Áp dụng tối đa các phương pháp giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng ngoại khoa 7.
Tránh để quên dụng cụ mổ hay bông gạc trong vùng mổ 8. Kiểm tra đối chiếu kĩ bệnh phẩm phẫu thuật 9. Thông báo kết quả và trao đổi thông tin đến người tổ chức thực hiện an toàn phẫu thuật 10. Các bệnh viện và hệ thống y tế thành lập bộ phân có nhiệm vù thường xuyen theo dõi số lượng và kết quả phẫu thuật (24).
Giải pháp đảm bảo an toàn phẫu thuật Theo tài liệu “Đào tạo liên tục an toàn người bệnh” của Cục Quản lý Khám chữa bệnh Bộ Y tế, giải pháp bảo đảm an toàn phẫu thuật cho người bệnh gồm một số giải pháp sau: - Để đảm bảo an toàn phẫu thuật góp phần thực hiện ca phẫu thuật thành công, giảm thiểu rủi ro trong quá trình phẫu thuật, tất cả nhân viên y tế cần nắm rõ thông tin người bệnh, nắm bắt các thông tin về chức năng sinh lý người bệnh, loại bệnh, phương thức phẫu thuật và phục hồi người bệnh. - Cơ sở y tế và nhân viên y tế cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước mỗi ca phẫu thuật: thuốc, máu, dịch truyền, dụng cụ, v. để đảm bảo tốt nhất và phòng ngừa các biến chứng có thể xảy ra. 8 - Ekip phẫu thuật bao gồm bác sĩ phẫu thuật chính, bác sĩ gây mê, điều dưỡng gây mê, điều dưỡng hỗ trợ, các thành viên khác cần có sự phối hợp và trao đổi thông tin, gắn kết trong nhóm.
- Các yếu tố thuộc về nhân viên y tế như trình độ chuyên môn, tuổi, sức khỏe, tinh thần, phân công công việc… đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phẫu thuật, ảnh hưởng đến việc phòng ngừa sự cố, đảm bảo an toàn trong phẫu thuật. Các chính sách của bệnh viện như khen thưởng, động viên kịp thời, xử lý các sai sót sự cố kịp thời sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của ATPT. - Các bệnh viện, cơ sở y tế cần thường xuyên tổ chức các khóa học, trao đổi thảo luận về sai sót, sự cố y khoa nói chung và ATPT nói riêng để giúp CBYT cập nhật kiến thức, kinh nghiệm cần thiết đảm bảo ATPT (15). - Xây dựng hệ thống báo cáo sự cố thường xuyên và kịp thời trong cơ sở y tế.
Sự cố PT được WHO đặt lên hàng đầu trong các sự cố y khoa, bao gồm: nhầm vị trí, nhầm NB, sai phương pháp, bỏ sót gạc dụng cụ (26). Một số quy định an toàn phẫu thuật 1. Thông tư 19/2013/TT-BYT Năm 2013, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 19/2013/TT-BYT hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện (23). Đây là một Thông tư quan trọng bởi Thông tư nhấn mạnh việc cải tiến, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh trong cơ sở y tế.
Trong Thông tư, các nội dung triển khai quản lý chất lượng bệnh viện được đưa ra, hướng dẫn đơn vị xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và trách nhiệm của bên trong việc thực hiện quản lý chất lượng. Trong đó, Thông tư yêu cầu các bệnh viện xây dựng báo cáo chất lượng và công bố theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Việc đánh giá chất lượng bệnh viện và kiểm tra thẩm định báo cáo sẽ do các cơ quan quản lý tiến hành dựa theo các tiêu chuẩn quản lý. Bộ Y tế yêu cầu các bệnh viện xây dựng kế hoạch, chương trình để bảo đảm và cải tiến chất lượng trong bệnh viện, xây dựng các chỉ số chất lượng, cơ sở quản lý dữ liệu, tiến hành triển khai các quy định, hướng dẫn chuyên môn về khám chữa bệnh.
9 Thông tư cũng yêu cầu và hướng dẫn các bệnh viện thiết lập hệ thống thu thập, báo cáo sự cố y khoa trong bệnh viện, bao gồm các báo cáo bắt buộc và tự nguyện. Quy trình đánh giá sai sót chuyên môn, sự cố y khoa, xác định các nguyên nhân và rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra. Trong Thông tư, tổ/ phòng quản lý chất lượng được nhắc đến bộ phận phối hợp chặt chẽ với các khoa phòng chức năng khác trong bệnh viện để thực hiện quản lý chất lượng bệnh viện. Đây là đơn vị đầu mối triển khai các hoạt động quản lý chất lượng.
Việc tổ chức thực hiện, theo dõi giám sát, báo cáo phối hợp các vấn đề quản lý chất lượng nói chung và an toàn người bệnh nói riêng thuộc vai trò của tổ/ phòng Quản lý chất lượng. Đây là bộ phân đầu mối thiết lập hệ thống quản lý phát hiện, phân tích, báo cáo, đưa ra các giải pháp để khắc phục các sự cố y khoa và an toàn người bệnh cũng như chất lượng chung của bệnh viện.