ĐẶT VẤN ĐỀ Say xe là một tình trạng khá phổ biến hiện nay. Trong một nghiên cứu lớn ở Ấn Độ, tỉ lệ người bị say xe là khoảng 26-28% [57]. Một nghiên cứu khác tại Anh ở trẻ em độ tuổi từ 7-12, tỉ lệ bị say xe là 43,4% khi sử dụng xe hơi, 43,2% khi sử dụng xe buýt [36]. Say xe còn ảnh hưởng đến các học viên phi công [60] và nhân viên cấp cứu [66].
Hiện tại Việt Nam chưa có nghiên cứu thống kê về tỉ lệ người bị say xe quy mô lớn, một nghiên cứu về dịch vụ vận tải của thương hiệu Phúc Thuận Thảo cho thấy lượng người sử dụng bị say xe có tỉ lệ cao 71,5% [1]. Say xe gây ảnh hưởng đáng kể đến khả năng lao động, đây là vấn đề rủi ro về sức khỏe và an toàn lao động [42]. Xã hội ngày càng hiện đại, số lượng người sử dụng các loại phương tiện di chuyển ngày một tăng [10]. Việc kiểm soát, phòng ngừa và điều trị say xe là vấn đề cần được chú trọng trong giai đoạn hiện tại.
Phòng ngừa say xe có vai trò quan trọng hơn là điều trị các triệu chứng khi đã xảy ra. Có rất nhiều biện pháp phòng ngừa say xe như điều chỉnh tư thế, mắt, cũng như sử dụng các loại thuốc y học hiện đại (YHHĐ) để phòng ngừa các triệu chứng. Tuy nhiên các phương pháp như điều chỉnh tư thế, mắt hiệu quả chưa cao, dùng thuốc YHHĐ lại dễ bị các tác dụng phụ không mong muốn như buồn ngủ, khô miệng, nhìn mờ, chóng mặt,. Theo Hwang Euna, đã có nhiều phương pháp y học cổ truyền (YHCT) được chứng minh để phòng ngừa say xe, trong đó có phương pháp không dùng thuốc như sử dụng băng đeo tay tác động lên huyệt nội quan [40].
Tuy nhiên nghiên cứu của tác giả Warwick-Evans L.A cho rằng phương pháp này không đem lại hiệu quả [63]. Theo tác giả, tác động lực chưa đủ trong quá trình kích thích có thể giải thích kết quả này, ngoài ra kích cỡ không phù hợp của băng tay cũng là một yếu tố tác động. Hu S và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu khác 2 và khắc phục được nhược điểm của phương pháp trên, đó là kích thích điện lên huyệt nội quan, và kết quả phương pháp này làm giảm các triệu chứng say xe [39]. Tuy vậy, phương pháp này lại xuất hiện nhược điểm mới: phải sử dụng máy điện để kích thích.
Ngoài ra cả hai phương pháp đều tác động lên vùng tay gây bất thuận tiện khi sử dụng phương tiện di chuyển. Hạt dán loa tai hiện nay là một phương pháp khá phổ biến được sử dụng rộng rãi trong điều trị YHCT. Sử dụng hạt dán loa tai vào huyệt chính thần môn và vùng chẩm kết hợp với một huyệt hỗ trợ là dạ dày có tác dụng phòng ngừa triệu chứng say xe [8], [20]. Hạt dán loa tai là một phương pháp kích thích huyệt liên tục trên tai.
Phương pháp này có thể khắc phục các nhược điểm trên: không cần sử dụng điện kích thích và tác động vào vùng tai, và bất ai kỳ ai cũng có thể tự sử dụng mà không cần có sự trợ giúp của bác sĩ YHCT. Đây là một phương pháp có khả năng thay thế hai phương pháp trên. Hiện tại, vẫn chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam về tác dụng của việc sử dụng hạt dán loa tai trong phòng ngừa say xe. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu khảo sát tác dụng của hạt dán loa tai trên những người tình nguyện dễ bị say xe tại Cơ sở 3-Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh nhằm đánh giá tác dụng của hạt dán loa tai trong phòng ngừa các triệu chứng say xe.
Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: “Hạt dán loa tai các huyệt thần môn, vùng chẩm, dạ dày có tác dụng phòng ngừa say xe hay không? ”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Khảo sát tác dụng của hạt dán loa tai các huyệt thần môn, vùng chẩm, dạ dày đối với triệu chứng do say xe trên người tình nguyện dễ bị say xe khi thực hiện nghiệm pháp trống quang. Mục tiêu cụ thể - So sánh tổng điểm nhóm triệu chứng về buồn nôn giữa 2 nhóm. - So sánh tổng điểm nhóm triệu chứng về cử động mắt giữa 2 nhóm.
- So sánh tổng điểm nhóm triệu chứng về mất định hướng giữa 2 nhóm. - So sánh tổng điểm các triệu chứng say xe giữa 2 nhóm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Quan niệm YHHĐ về say xe 1. Ngoài ra còn ghi nhận các triệu chứng khác như ra mồ hôi, đau đầu, mệt mỏi.
Những đối tượng say xe thường thấy cảm giác khó chịu mơ hồ ở bụng, cùng với triệu chứng khó chịu, buồn nôn và có thể dẫn tới nôn. Các triệu chứng trên liên quan đến hệ thần kinh tự chủ [56]. Tuy nói là say xe nhưng thực tế có nhiều nguyên nhân gây nên cảm giác say xe như đi tàu, máy bay, môi trường mô phỏng và tình trạng không trọng lực. Say xe có thể xảy ra khi có đáp ứng với chuyển động thật sự và chuyển động biểu kiến [53].
Chuyển động biểu kiến đề cập tới tình huống mà trong đó đối tượng vẫn bất động, nhưng sự chuyển động của ngoại cảnh làm họ trải nghiệm ảo giác của sự chuyển động. Điều này có thể xảy ra khi quay trống có sọc xen kẽ với nền tương phản, khi xem phim màn hình rộng và mô phỏng môi trường thật từ máy tính (VR) [53]. Người bị khiếm khuyết tiền đình ngoại biên không bị say xe [21], không giống như người bị mù. Điều này cho thấy hệ tiền đình đóng vai trò chủ đạo trong sự phát sinh nên say xe.2 Cơ chế say xe Cơ chế phổ biến được chấp nhận hiện nay là thuyết xung đột giữa các giác quan và 2 giả thuyết khác ít được chấp nhận hơn là thuyết phản xạ cử động mắt và thuyết tư thế không ổn định.
Một nghiên cứu đã cho thấy say xe gây ra bởi kết hợp cả 3 giả thuyết trên, trong đó xung đột giác quan đóng vai trò chủ đạo [30].1 Thuyết xung đột các giác quan Say xe là một phản ứng bình thường cho kích thích bất thường, hay nói cách khác đó là sự mâu thuẫn thông tin từ hệ thống giác quan phát hiện và phiên dịch chuyển động tương ứng với ngoại cảnh [29]. Não nhận thông tin từ tiền đình, cảm giác, và hệ thống thị giác và xử lý các thông tin này để kích hoạt sự ổn định thị giác trong khi vật thể đang chuyển động. Say xe xảy ra khi có sự mâu thuẫn giác quan truyền tới não. Ví dụ thường thấy cho việc này đó là đọc sách trên tàu xe.
Hệ tiền đình gửi tín hiệu đến não bộ, nhưng hệ thị giác lại đang tập trung vào dòng chữ cố định trong sách, gây ra mâu thuẫn. Sự xử lý thông tin sai lệch này diễn ra ở não, dẫn đến đáp ứng trên hệ thần kinh tự chủ. Trải nghiệm hay ký ức về say xe cũng đóng góp vào cơ chế này. Chứng say tàu xe không chỉ được gợi ra bởi một số loại tự chuyển động, mà còn bằng chuyển động của ngoại cảnh.
Dựa trên giả thuyết này, trống quang (optokinetic drum) thường được sử dụng để gây ra một cuộc xung đột giữa tiền đình và thị giác [18].2 Thuyết phản xả cử động mắt Mấu chốt của thuyết này cho rằng chuyển động của mắt gây ra bởi sự trượt võng mạc gây nên say xe. Giả thuyết này liên quan tới 2 cơ chế chuyển động ở mắt đó là rung giật nhãn cầu và phản xạ tiền đình mắt [28].3 Thuyết tư thế không ổn định Giả thuyết này cho rằng chuyển động của cơ thể, không phải phản xạ cử động mắt hay xung đột giác quan, đóng vai trò chính gây nên say xe [59]. Thuyết này cho rằng say xe gây ra do các đối tượng được đặt trong môi trường mà họ chưa học được tư thế giữ thăng bằng hiệu quả [27]. Ví dụ người du lịch trên thuyền phải học cách điều chỉnh theo chuyển động của thuyền, điều này vẫn tiếp diễn khi họ trở lại mặt đất gây cảm giác bồng bềnh khi đứng và đi cho tới khi họ quen với việc ở trên bờ trở lại.3 Người dễ bị say xe Say xe thường gặp ở nữ hơn là nam, đặc biệt là khi trong kỳ kinh hay mang thai, điều này có thể do sự ảnh hưởng của nội tiết.
Các triệu chứng buồn nôn và nôn ít gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi nhưng tăng dần cho đến 12-15 tuổi rồi giảm dần dần cho đến khi già [52]. Người có tiền sử đau đầu migraine và nhạy cảm với chuyển động từ trước thường hay bị say xe. Ngoài ra người có bệnh lý tiền đình, đặc biệt là người mới bị, và người có khiếm khuyết hiếm trong vùng não phụ trách xử lý từ tai trong thường không chịu đựng được say xe. Các yếu tố khác như rượu và thuốc gây chóng mặt góp phần làm tăng triệu chứng say xe.4 Bảng đánh giá độ mẫn cảm với say xe Bảng đánh giá độ mẫn cảm với say xe (Motion Sickness Susceptibility Questionnaire hay MSSQ) được soạn và kiểm chứng bởi Reid năm 1991.
Bộ câu hỏi bao gồm thông tin cá nhân, cân nặng, chiều cao, tuổi, theo sau đó là 12 câu hỏi về trải nghiệm say xe khi sử dụng 7 loại phương tiện di chuyển, một câu hỏi để đối tượng tự đánh giá về sự mẫn cảm với say xe trong cái nhìn của người khác. Năm 2016, Golding đã tạo ra MSSQ bản tóm gọn và kiểm chứng nó. Bản tóm gọn này có giá trị chẩn đoán và giúp giảm thời gian cần để đánh giá [34].5 Bảng đánh giá triệu chứng do say xe [43], [49] Phương pháp đo lường cho triệu chứng say xe trong tất cả mọi hoàn cảnh được sử dụng nhiều nhất, đây là một bảng tự đánh giá các triệu chứng của đối tượng tham gia. Năm 1993, Kennedy, Lane, Berbaum đã sáng chế ra bảng câu hỏi đánh giá triệu chứng say xe Stimulation Sickness Questionaire (SSQ).
Từ đó, SSQ đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu và trong tạp chí về khoa học. Bảng SSQ này là một bảng tự đánh giá bao gổm 16 triệu chứng được đánh giá bởi chính các đối tượng theo 4 mức độ (không có, nhẹ, trung bình, nặng). Sau đó sử dụng các công thức toán học để tính toán từ bảng đánh giá trên. Cuối 7 cùng tính ra được tổng điểm cho các thang điểm về triệu chứng liên quan đến buồn nôn, chuyển động mắt và mất định hướng.
Bảng đánh giá này có độ nhạy là 80,6% và độ đặc hiệu là 88,6% [14].